Được xác định là 1 trong 4 tỉnh trọng điểm sản xuất cung ứng gỗ trụ mỏ phục vụ cho khai thác than ngay từ năm 1997, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Sở NN&PTNT đã phối hợp triển khai thực hiện Dự án tạo rừng gỗ mỏ. Sau 10 năm triển khai thực hiện dự án đã chứng tỏ hiệu quả to lớn trên cả 2 phương diện: Kinh tế và xã hội.
Làm lợi về kinh tế
Các đồng chí lãnh đạo TKV, Sở NN&PTNT thăm nơi sản xuất cây giống trồng rừng cung ứng cho Dự án trồng rừng gỗ trụ mỏ.
Dự án tạo rừng gỗ mỏ được triển khai nhằm trồng mới 16.130 ha rừng tại 77 tiểu khu và khoanh nuôi, làm giàu rừng tự nhiên 10.610ha do các Công ty Lâm nghiệp: Uông Bí, Hoành Bồ, Đông Triều, Tiên Yên, Bình Liêu, Ba Chẽ, Vân Đồn, Cẩm Phả thực hiện. Cây trồng chủ yếu là keo, thông mã vĩ, bạch đàn, thông Elliotti, giẻ bốp. Mục tiêu của Dự án là sản xuất và cung cấp 1,338 triệu m3 gỗ mỏ phục vụ cho khai thác than tại Quảng Ninh; giải quyết việc làm cho 2.000 lao động lâm nghiệp và 500 hộ dân nhận đất nhận rừng. Tổng vốn đầu tư của dự án gần 160 tỷ đồng, được sử dụng theo 2 nguồn: Vốn ứng trước của ngành Than và vốn tín dụng ưu đãi theo quy định của Nhà nước. Cụ thể các đơn vị trong ngành Than ứng trước vốn cho các công ty lâm nghiệp trồng rừng tạo nguồn gỗ trụ mỏ theo dự án đã được phê duyệt hàng năm.
Đồng chí Hoàng Công Đãng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: Năm 1997 dự án được triển khai trong điều kiện áp lực khai thác quá lớn đã làm suy giảm nhanh chóng cả số lượng và chất lượng rừng. Thời kỳ này độ che phủ rừng của toàn tỉnh chỉ còn 36%, đã đến mức báo động. Trữ lượng rừng chỉ còn dưới 5 triệu m3, chủ yếu phân bố ở những nơi cao, xa điều kiện khai thác, vận chuyển vô cùng khó khăn, phức tạp. Mặc dù là khách hàng truyền thống cung cấp gỗ trụ mỏ cho các công ty than nhưng các đơn vị trong ngành Lâm nghiệp cũng chỉ đáp ứng được dưới 15% nhu cầu gỗ trụ mỏ và sản lượng cung ứng ngày càng bị thấp đi do việc phải đóng cửa rừng. Trong khi đó theo tính toán của ngành Than để khai thác được 1.000 tấn than thì cần 46m3 gỗ chống lò. Năm 1997 ngành Than cần 176.500m3 gỗ thì đến năm 2005 cần hơn 250.000m3 và nhu cầu sẽ tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Trong khi nguồn cung cấp gỗ từ rừng tự nhiên ngày càng khó bởi Chính phủ đã có yêu cầu từ năm 2005 phải đóng cửa rừng không khai thác gỗ rừng tự nhiên. Như vậy không chỉ hoạt động sản xuất của các lâm trường gặp khó khăn mà các công ty than cũng đứng trước nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng sản lượng gỗ chống lò.
Sau 10 năm triển khai thực hiện dự án, các công ty lâm nghiệp đã trồng được 7.433,9ha rừng trồng tập trung, đạt 46% kế hoạch. Cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, tốc độ tăng trưởng đường kính 1,5-2,2 cm/năm, chiều cao 1,5-2m/năm, trữ lượng đạt 8-12m3/ha/năm. Sau 7-8 năm, cây trồng đạt thành thục công nghệ có đường kính bình quân 14-22cm, chiều cao bình quân 10-14m, trữ lượng đạt 80-100 m3/ha. Nếu như năm đầu triển khai thực hiện dự án chỉ có 3 Công ty Lâm nghiệp là Hoành Bồ, Ba Chẽ, Vân Đồn tham gia trồng được 212,26ha thì những năm sau tất cả các đơn vị trong ngành Lâm nghiệp đều đăng ký tham gia dự án. Diện tích rừng trồng tăng lên hàng năm, riêng năm 2007 đã trồng được 1.470ha (vượt 165% kế hoạch), vốn ứng trước bình quân 6,37 triệu đồng/ha. Kể từ năm 2004 các công ty lâm nghiệp bắt đầu thanh toán gỗ từ trồng rừng cho các công ty than theo đúng hợp đồng, đến năm 2007 đã thanh toán được 17.545m3 gỗ. Do thực hiện tốt dự án, lựa chọn cây trồng thích hợp nên một số lâm trường đã trả được gỗ cung ứng trước 1 năm cho các công ty than. Số lượng gỗ còn phải thanh toán 95.653m3 và sẽ được thanh toán theo tiến độ đến năm 2015. Theo cam kết của các công ty lâm nghiệp, việc trả gỗ theo hợp đồng cung ứng không có gì khó khăn bởi số lượng gỗ ở tuổi thành thục công nghệ lớn hơn rất nhiều lần so với số gỗ phải thanh toán. Trữ lượng khi thành thục công nghệ ước đạt 594.700 - 669.000m3, phần thặng dư này sẽ được cung ứng cho các công ty than theo nhu cầu hàng năm. Ngoài việc trồng rừng tạo gỗ mỏ các công ty lâm nghiệp cũng đã tăng cường làm dịch vụ cho các công ty than, vì vậy khối lượng gỗ dịch vụ được tăng lên hàng năm. Từ năm 1997-2007 các công ty lâm nghiệp đã cung ứng 502.969m3 gỗ các loại.
Sau 10 năm thực hiện, nhận thấy hiệu quả to lớn mà dự án mang lại nên vừa qua Sở NN&PTNT và TKV tiếp tục ký hợp đồng trồng rừng gỗ trụ mỏ đến năm 2015. Ngành Than cam kết sẽ đầu tư cho các công ty lâm nghiệp hơn 100 tỷ đồng để tiếp tục thực hiện dự án, đồng thời mở rộng phạm vi phối hợp sang nghiên cứu trồng rừng trên bãi thải và đưa cán bộ vào Tây Nguyên nghiên cứu trồng rừng tại nơi TKV đang tổ chức khai thác quặng Bôxít.
Hiệu quả về xã hội
Cùng với các dự án trồng rừng khác, dự án trồng rừng gỗ trụ mỏ đã giúp Quảng Ninh giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động trong các đơn vị lâm nghiệp và nhiều hộ dân khu vực miền núi, tạo màu xanh, nâng độ che phủ rừng. ở vào thời điểm các công ty lâm nghiệp đang không có vốn để đầu tư trồng rừng, nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước quá thấp, thì việc các công ty than ứng trước vốn cho các đơn vị lâm nghiệp thực hiện dự án trồng rừng chẳng khác gì chiếc phao cứu cánh cho công nhân ngành lâm nghiệp thoát khỏi nguy cơ thất nghiệp. Việc thực hiện đúng, đủ các hợp đồng đã cam kết tạo cho các đơn vị trong ngành lâm nghiệp một bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức về làm ăn kinh tế thời cơ chế thị trường. Còn đối với các đơn vị trong ngành Than, việc thực hiện dự án không những có đủ gỗ trụ mỏ phục vụ cho sản xuất mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tham gia vào quá trình bảo vệ môi trường, tài nguyên. Kể từ năm 2006, các công ty than chủ động phối hợp với các công ty lâm nghiệp thực hiện việc xây dựng dự án, thiết kế kỹ thuật, tổ chức trồng rừng trên các bãi thải tại khai trường Khe Sim, Nam Đèo Nai… Đến thời điểm này, có thể khẳng định đây là dự án trồng rừng đầu tiên được thực hiện theo hình thức hợp đồng kinh tế thành công nhất tạo được sự cộng quản tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tạo sợi dây gắn kết tình cảm giữa doanh nghiệp trung ương với doanh nghiệp địa phương, giữa doanh nghiệp với người dân bản địa.
Thực hiện dự án không chỉ công nhân ngành lâm nghiệp có việc làm mà 1,1 triệu lao động sinh sống ở khu vực cận rừng cũng có việc làm thường xuyên ổn định, kinh tế hộ ngày càng phát triển. Cùng với các dự án lâm nghiệp khác, dự án tạo rừng gỗ mỏ đã góp phần đưa độ che phủ rừng của tỉnh lên 46%, cao hơn gần 10% so với mức bình quân chung của cả nước.