Theo kế hoạch, vụ chiêm xuân năm nay nông dân huyện Tiên Yên sẽ gieo trồng trên tổng diện tích 2.433 ha cây trồng các loại, trong đó cây lúa 988 ha, ngô 640 ha còn lại là các loại cây trồng khác; sản lượng lương thực phấn đấu đạt 7.313 tấn.
Đến thời điểm này, huyện Tiên Yên đã tiếp nhận và giao 22.354kg giống các loại đến tay người dân, trong đó có 4.200kg giống lúa lai; 12.000kg giống lúa thuần và 6.154 giống ngô các loại. Bên cạnh đó người dân cũng đã chuẩn bị đầy đủ lượng giống cho sản xuất vụ chiêm xuân.
Hiện nay nhiều hồ nước trên địa bàn huyện Tiên Yên đã giảm nghiêm trọng.
Trong ảnh: Hồ Cây Trám (Tiên Lãng) hiện nay chỉ còn chưa đầy 1m nước, không đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp của người dân thôn Cống To.
Tuy nhiên, do đợt rét đậm rét hại kéo dài vừa qua lịch thời vụ cho sản xuất nông nghiệp của huyện bị lùi lại. Đặc biệt, do hạn hán, lượng nước trong các hồ trên địa bàn huyện giảm, thiếu nghiêm trọng cho việc gieo mạ, cày bừa phục vụ sản xuất, nhất là đối với các xã vùng cao. Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ ngày 8-2 bà con nông dân đã bắt đầu gieo trà xuân sớm, đến thời điểm này các xã vùng thấp trong huyện đã gieo được 40% tổng lượng giống và dự kiến đến cuối tháng, các xã này sẽ gieo mạ xong. 5 xã vùng cao trên địa bàn huyện (Hà Lâu, Đại Dực, Điền Xá, Phong Dụ, Đại Thành) rất khó khăn về nguồn nước sản xuất có khả năng không đảm bảo nước cho việc gieo mạ của bà con nông dân.
Để chủ động phòng chống hạn hán, ngay từ đầu vụ, để đảm bảo nguồn nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, huyện đã tổ chức ra quân làm thuỷ lợi, nạo vét toàn bộ hệ thống kênh mương chính dẫn nước, sửa chữa một số công trình thuỷ lợi đầu mối trên địa bàn; chuẩn bị chu đáo các phương án để hỗ trợ người dân chống hạn như chuẩn bị hệ thống bơm dã chiến, gầu, guồng tát nước thủ công… Cùng với đó điều chỉnh lại lịch gieo cấy, lùi lại thời gian gieo mạ đến sau tiết lập xuân. Hiện tại, mực nước tại 18 hồ chứa nước phục vụ sản xuất trên địa bàn huyện đang ngày một xuống thấp; trong đó một số hồ mực nước đã xuống rất thấp chỉ có thể dùng bơm dã chiến bơm nước phục vụ cho việc gieo mạ của những diện tích quanh hồ, không có nước cho việc cày bừa ở thời điểm tiếp theo. Nếu như cùng thời điểm này của năm trước, nước trong các hồ như: Khe Táu (Đông Ngũ), Yên Hải (Hải Lạng), Đá Lạn (Tiên Lãng), hồ Thôn Thượng, thôn Trung, thôn Hạ (Đồng Rui)… đảm bảo nước phục vụ cho sản xuất của cả vụ chiêm xuân nhưng đến thời điểm này chỉ đảm bảo cho việc gieo mạ của các xã vùng thấp. Hồ Cây Trám - nguồn nước duy nhất cung cấp cho 16 ha đất nông nghiệp thôn Cống To (Tiên Lãng), do hạn hán kéo dài đã gần như cạn kiệt từ nhiều tháng nay. Nước còn lại trong hồ chỉ đủ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân trong thôn và cho gia súc uống, còn nước để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thì chỉ có thể trông chờ vào nguồn nước mưa. Tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất như thôn Cống To cũng là tình trạng chung trên toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của xã Tiên Lãng. Bên cạnh hạn hán, tình trạng xuống cấp của nhiều công trình thủy lợi cũng làm cho vấn đề cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp càng trở nên khó khăn hơn ở nhiều xã của huyện Tiên Yên. Hồ Thanh Hải (Hải Lạng), dung tích gần 1 triệu m3, trước đây vào những năm hạn, hồ vẫn có khả năng cung cấp cho gần 80 ha lúa vụ đông xuân. Tuy nhiên, từ 4 năm trở lại đây, do không được tu bổ, sửa chữa, hệ thống van đóng mở và thân đập bị xuống cấp, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng trữ nước của công trình thủy lợi này.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Trung Bang, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tiên Yên cho hay: “Để chủ động đối phó với tình trạng hạn hán, bên cạnh những biện pháp về kỹ thuật, huyện cũng đã chỉ đạo các địa phương và bà con nông dân chủ động chuyển đổi cây trồng ở những diện tích không chủ động được nguồn nước tưới. Những diện tích cấy cưỡng do không có nước sẽ chuyển sang trồng các loại ngô xuân. Hiện tại không chỉ các xã vùng cao trên địa bàn huyện thiếu nước sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt mà ngay cả một số thôn thuộc diện vùng cao của các xã vùng thấp cũng thiếu nước trầm trọng, ví dụ như thôn Cống To do không có nước, ở đây chỉ có thể cấy được một vụ lúa, còn lại đất bỏ hoang; nước sinh hoạt cho 78 hộ dân trong thôn này cũng chỉ trông chờ vào 2 cái giếng cạn kiệt”. Nói về việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, nhất là việc đưa các giống lúa mới năng suất cao vào sản xuất, ông Bang cũng khẳng định “Chính việc thiếu nước cho sản xuất nên huyện rất khó khăn trong việc chỉ đạo điều hành sản xuất, nhất là việc đưa các giống lúa lai vào sản xuất ở vùng cao. Để đạt được sản lượng lương thực 7.313 tấn theo kế hoạch vụ này Phòng nông nghiệp, các địa phương và bà con nông dân phải đặc biệt chú trọng việc thâm canh, tăng năng suất; chủ động bón phân, phòng trừ sâu bệnh kịp thời”.