Thoát nghèo là ước vọng của biết bao gia đình trên khắp mọi miền đất nước ta. Với người dân ở Vạn Yên, một trong những xã sâu xa nhất trên đảo Cái Bầu (huyện Vân Đồn) đã và đang manh nha lên những ý tưởng làm giàu từ chính những tiềm năng, thế mạnh mà bao đời nay người dân nơi đây chưa hề nghĩ đến.
Mới vừa rồi, có dịp đến đây, chúng tôi được nghe, được xem những cách làm rất đơn giản nhưng lại hứa hẹn mang về những mùa bội thu!
Anh Lưu Đức Trọng với những ô lồng nuôi ong mật...
Hơn 8 giờ, chúng tôi có mặt ở trụ sở UBND xã Vạn Yên. Lúc này, cán bộ của xã đang tất bật chuyển đồ đạc từ văn phòng làm việc cũ sang trụ sở mới. Đang cặm cụi xếp lại hồ sơ trong phòng làm việc, thấy khách đến, Chủ tịch UBND xã Chu Quyết Thắng hồ hởi bắt tay từng người. Qua câu chuyện của đồng chí Chủ tịch UBND xã, chúng tôi được biết nhiều mô hình kinh tế nơi đây đã và đang hứa hẹn những mùa bội thu. Là xã vùng sâu, vùng xa của huyện Vân Đồn, Vạn Yên vừa mang đặc thù của địa phương miền núi, lại vừa có tính chất hải đảo. Diện tích đất lâm nghiệp của xã chiếm phần lớn, diện tích đất nông nghiệp chỉ có trên 130ha, còn diện tích mặt nước, bãi triều thì nhiều vô kể. Từ bao đời nay, người dân địa phương chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên. Điều này đã biến những cánh rừng già nguyên sinh trở nên nghèo kiệt. Sản xuất nông nghiệp do thiếu nước tưới tiêu cùng với trình độ canh tác lạc hậu nên lương thực, thực phẩm phục vụ bữa ăn hằng ngày của nhân dân trong xã thường xuyên phải nhập từ nơi khác về. Đất bãi triều lại bị để hoang hoá. Đáng chú ý là, cam Vạn Yên - loại trái cây truyền thống ở đây có hương vị thơm ngon khó nơi nào sánh được, nhưng được trồng tự phát, chưa mang tính sản xuất hàng hoá, chưa được chú trọng khẳng định và bảo vệ thương hiệu. Từ khi tuyến đường xuyên đảo từ thị trấn Cái Rồng vào trung tâm xã được làm, các doanh nghiệp tới tấp vào khu du lịch Bãi Dài đầu tư, kinh doanh, đã biến nơi đây thành khu nghỉ dưỡng lý tưởng của du khách thập phương. “Nhưng có lẽ Dự án lâm sản ngoài gỗ được triển khai ở địa bàn từ hồi cuối năm 2003 mới mang lại sự đổi đời thực sự bền vững cho nhiều hộ dân trong xã”, Chủ tịch UBND xã Chu Quyết Thắng nhấn mạnh. Anh cho biết: Dự án này nhằm mục đích xây dựng, nhân rộng những mô hình phát triển các loại cây, con cho giá trị kinh tế cao ngoài gỗ, như nuôi ong mật, tắc kè, trồng nấm và ba kích, đồng thời khôi phục lại nghề trồng cam truyền thống... Đến nay, hiệu quả rõ nhất có thể thấy là Dự án đã giúp người dân khôi phục nghề trồng cam truyền thống ở thôn 10-10. Đây là loại cây mà người dân các dân tộc Hoa, Sán Dìu trồng từ hàng trăm năm nay.
“Chúng tôi xác định căn nguyên làm cho cam Vạn Yên trước đây bị thui chột là do rừng bị khai thác ồ ạt để trồng cây lấy gỗ đã khiến cho nguồn nước mặt bị cạn kiệt. Nhiều cây cam trồng và thu hoạch từ khá lâu đã bị thoái hoá, nay cần phải được lai tạo lại”. Chủ tịch UBND xã cho biết thêm. Từ đánh giá khoa học này, xã đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện chỉ đạo nhân dân đẩy nhanh tiến độ phủ xanh đất trống, đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái; đồng thời nghiên cứu, thay thế giống cam mới phù hợp với thổ nhưỡng trên địa bàn. Từ đó đến nay, bà con rất phấn khởi đầu tư cải tạo lại vườn cam. Hiện, toàn xã đã duy trì được khoảng 30ha, với hàng ngàn gốc cam. Một số hộ đã có thu nhập từ 100 đến 200 triệu đồng/năm từ trồng cam. Chủ tịch UBND xã Chu Quyết Thắng khẳng định: “Chúng tôi hiện đang chủ trương xây dựng thương hiệu và đăng ký bản quyền cam Vạn Yên để mô hình này đi vào sản xuất hàng hoá. Cùng với cam, bây giờ, trên địa bàn còn có nhiều mô hình hay lắm. Nếu các bạn muốn đi thực tế, chúng tôi sẽ cho cán bộ dẫn đi”.
Nơi đầu tiên chúng tôi đến thăm là mô hình nuôi ong ở thôn Đài Làng. Trên đường đi, đồng chí cán bộ xã giới thiệu: “Thực ra, nghề nuôi ong cũng là một trong những nghề cũ của xã, nhưng để thành mô hình sản xuất hàng hoá thì chỉ có một vài năm trở lại đây thôi”. Chừng hơn chục phút đi xe máy, chúng tôi đến một căn hộ nằm khép mình dưới rừng keo đang kỳ khép tán. Chỉ vào một người đàn ông đang vét mật ong dưới gốc cây, anh cán bộ xã giới thiệu: “Đây là anh Lưu Đức Trọng, một trong những bậc thầy về nuôi ong ở đây đấy”. Nhìn bàn tay thô ráp của anh Trọng đang điêu luyện tách từng sáp ong ra để vắt mật, rất nhiều chú ong thợ bu vào mu bàn tay mà anh vẫn thản nhiên làm việc, chúng tôi thực sự cảm phục. Chỉ vào những tổ ong được đặt ngay ngắn dưới những gốc cây, anh Trọng khoe với chúng tôi: “Năm nay mật nhiều lắm, chắc vụ này tôi phải kiếm được khoảng hai chục triệu!”. Khi hỏi về kỹ thuật nuôi ong, anh Trọng cho biết: “Nuôi ong mật tưởng khó nhưng rất dễ. Ban đầu, mình cũng biết nuôi đâu. Cách đây 20 năm, mình về làm rể ở làng này. Lúc ấy bố vợ mình là một thợ lão luyện chuyên đi rừng bắt ong về nuôi. Một vài lần theo cụ đi, thấy mình chịu khó học hỏi, thế là cụ bày cho cách phát hiện hướng bay của ong thợ để tìm đến nơi có tổ, hay kinh nghiệm tách tổ, chia đàn mỗi khi tổ có thêm ong chúa. Làm lâu dần, thành quen. Trước mình cũng chỉ nuôi một vài tổ để lấy mật dùng và làm quà biếu cho người thân, nhưng sau thấy có thể thoát nghèo được từ nghề này, thế là mình đầu tư mở rộng mô hình. Và nhờ ong mật mà đến nay, mình có thể mua sắm được ti vi, tủ lạnh, xe máy, nuôi con học hành”. Anh cán bộ xã cho biết thêm: Không chỉ làm giàu cho mình, hễ thấy ai trong làng, trong xã muốn học hỏi cách nuôi ong là anh Trọng lại tận tình chỉ bảo. Nhờ đó, đến nay, trên địa bàn xã đã có hàng chục hộ nuôi ong với mức thu nhập từ 20 đến 30 triệu đồng/năm.
...và bà Lâm Thị Sáu với vườn trồng ba kích của gia đình.
Chúng tôi đến thăm mô hình trồng ba kích của bà Lâm Thị Sáu ở thôn Đài Mỏ. Điều chúng tôi ngạc nhiên là khi nghe bà Sáu nói về kinh nghiệm phát triển các lâm sản ngoài gỗ hệt như một kỹ sư lâm nghiệp thực thụ. Nào là kỹ thuật trồng nấm ra sao để được thu nhanh và ổn định, rồi kỹ thuật trồng ba kích sao cho ra nhiều củ... Bà Sáu kể, trước đây bà cũng mờ tịt về các kiến thức đó. Khi Dự án lâm sản ngoài gỗ được triển khai ở thôn, ban đầu bà cũng chỉ đến xem cho vui. Vậy mà chỉ một thời gian ngắn bà bỗng “nghiện”. Thế rồi bà xin tài liệu về đêm ngày miệt mài nghiên cứu. Sau một thời gian, bà nhận thấy sách hướng dẫn nhiều cách làm rất hay, nhưng bà nghiệm thấy trồng nấm và trồng ba kích vừa không tốn tiền, tốn thời gian lại cho thu nhập rất cao. Nghĩ là làm, hơn 3 năm trước bà bàn với chồng dùng một phần diện tích đất trước đây trồng khoai lang nuôi lợn để trồng vài trăm hốc ba kích. Bà hồi hộp khi nhìn thấy ba kích nhú mầm và sinh trưởng. Không phụ công của bà Sáu, sau hơn 3 năm chờ đợi, đến nay những cây ba kích bà trồng có hốc đã cho lượng củ từ 3-4kg. Bà Sáu nhẩm tính, với giá 70.000 đồng/kg, sau hơn 3 năm, trừ chi phí, vườn ba kích của bà sẽ có vài chục triệu đồng. Mới đây, Trường Đại học Lâm nghiệp Thái Nguyên đã cử cán bộ về tìm hiểu, nghe bà phổ biến kỹ thuật trồng ba kích. Họ cũng mua mấy chục hốc để về trường nghiên cứu. Bà Sáu bộc bạch: “Trồng cây ba kích dễ lắm, có thể trồng xen với các loại cây lấy gỗ khác. Một sào canh tác, chỉ cần sau một vụ thu hoạch có thể kiếm được vài chục triệu đồng. Vợ chồng tôi đang nghiên cứu để nhân rộng ra diện tích canh tác còn lại”. Cũng thời gian này, bà Sáu còn mày mò trồng thử nghiệm và rủ một số hộ khác mạnh dạn làm hồ sơ đăng ký bản quyền để sản xuất rượu nấm linh chi. Vừa mở tủ bê ra mác sản phẩm rượu mà bà mới đăng ký được, bà Sáu vừa cho biết: “Có thể hiện nay, sản phẩm này chưa dễ tiêu thụ, nhưng trong tương lai, du lịch ở Vân Đồn phát triển, chắc chắn nó sẽ có chỗ đứng”.
Trên đường về, đồng chí cán bộ xã Vạn Yên còn chỉ cho chúng tôi xem mô hình nuôi trồng thuỷ sản đang được triển khai dưới một thung lũng rộng lớn. Anh cán bộ này khẳng định: “Tuy hiện nay, các mô hình vẫn đang ở giai đoạn đầu. Nhưng rồi đây, chắc chắn tiềm năng, lợi thế của địa phương chúng tôi sẽ được khai thác một cách hiệu quả”. Và chúng tôi tin là như thế!