Để giúp nông dân huyện Đầm Hà phát triển kinh tế dựa trên tiềm năng tự nhiên, năm 2004 tỉnh phê duyệt dự án trồng 272 ha chè và quyết định mở rộng dự án này vào giữa năm 2007, với tổng diện tích thực hiện từ 2004-2010 là 424 ha, mức hỗ trợ 12 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, sau một thời gian tích cực triển khai, đến nay tiến độ trồng chè đang có dấu hiệu chững lại. Huyện đang lo, có thể đến năm 2010 không trồng hết được số diện tích như mục tiêu của dự án.
Hiệu quả được khẳng định
Khác với nhiều loại cây nông nghiệp, cây chè tuy công chăm sóc vất vả, nhưng trồng một lần thì cho khai thác hàng chục năm, bởi vậy có giá trị kinh tế cao. ở Đầm Hà, sự kỳ vọng về một vùng chè lớn mạnh được thai nghén và chính thức triển khai từ năm 2004, khi tỉnh có quyết định hỗ trợ cho dự án trồng chè với mức 12 triệu đồng/ha. Trên cơ sở này, huyện Đầm Hà luôn xác định: Chè là cây phát triển bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập lâu dài, do đó việc động viên, khuyến khích người dân là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển KT-XH mà Huyện uỷ, UBND huyện luôn chỉ đạo.
Thu hoạch chè trong vùng dự án ở xã Tân Bình. ảnh: PV
Nếu khoảng 30 năm nay, số diện tích chè của huyện Đầm Hà luôn chỉ ổn định ở khoảng 300 ha, thì chỉ trong năm đầu tiên thực hiện dự án (2004), Đầm Hà đã trồng được tới 55 ha. Bên cạnh sự hỗ trợ của tỉnh, HĐND huyện có quyết định hỗ trợ thêm cho nông dân 1 triệu đồng/ha. Công tác tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật cũng như các khâu khác trong tổ chức thực hiện bước đầu được triển khai tốt. Kết quả, từ năm 2002 đến cuối 2007, Đầm Hà đã trồng được 191,17 ha, trong đó trồng theo mô hình của huyện là 19,4 ha, theo dự án của tỉnh là 171,77 ha. Đến nay đã có gần 50 ha chè cho thu hoạch, năng suất từ 3-7 tấn/ha. Đó là hiệu quả khá cao, mặc dù các hộ mới đầu tư khoảng 52% dự toán (kể cả vốn ngân sách hỗ trợ). Nhiều hộ đã thu trên 1 triệu đồng/tháng, đầu ra khá ổn định.
Thiếu vốn, nhận thức chưa đầy đủ: rào cản
Tuy vậy, sự vất vả trong làm đất, chăm sóc chè và đầu tư ban đầu lớn (khoảng 40 triệu/ha) là hai nguyên nhân chính khiến không ít người dân Đầm Hà, đặc biệt ở xã trọng điểm dự án là Tân Bình (272/424 ha) chùn bước. Ông Lê Văn Tuân, thôn Bình Nguyên, xã Tân Bình cho biết: Ngay từ năm 2004 - khi giá nguyên vật liệu để trồng chè (phân bón, công làm đất, cây giống...) chỉ ở mức một nửa như hiện nay, thì để trồng được 7.000 mét vuông chè, nhà ông đã chi gần 30 triệu đồng. Riêng làm đất, phát bì, công trồng chè... đã phải thuê 10 người, cùng con cháu làm trong gần 1 tháng liền mới trồng được số diện tích trên. Còn đến nay thì sao? Ông Hoàng Văn Quân, Trưởng Ban Quản lý dự án trồng chè của xã Tân Bình cho biết: Với 12 triệu đồng/ha của tỉnh, nếu trước đây có thể hỗ trợ cho nông dân được cả công làm đất, phát thực bì, mua giống cây và phân để bón lót, bón thúc, thì đến thời điểm này chỉ đủ chi cho làm đất, phát thực bì và cây giống là hết tiền. Không thể mua được phân bón, vì giá phân so với thời điểm 4 năm trước đã tăng gần gấp 3 lần. Và đây là một trong những nguyên nhân chính khiến không ít gia đình dừng trồng chè, để chuyển sang trồng cây keo (thậm chí trên cả đất đã đăng ký trồng chè), vốn đầu tư chỉ khoảng 3 triệu đồng/ha mà không mất nhiều công chăm sóc. Cùng đó, để duy trì được sự sinh trưởng ổn định của cây chè, đòi hỏi công chăm sóc thường xuyên. Trong khi đó, như xã Tân Bình nơi chúng tôi đến, bình quân 1 hộ có 2,8 lao động, thì cũng chỉ dành được 1 lao động cho chăm sóc chè. Như vậy, nếu không có tiền thuê nhân công mà “lấy công làm lãi” cũng là điều khó khăn. Nhiều nhà không chăm sóc chè được như yêu cầu. Hiện nay, riêng xã Tân Bình có gần 40% diện tích chè sinh trưởng ở mức trung bình và xấu. Bên cạnh đó có nguyên nhân khiến diện tích chè không được trồng thêm nhiều là do việc giao đất ở một số nơi còn “cục bộ”. Năm 2004, ở thời điểm giao nhận đất để trồng theo kế hoạch, nhiều hộ nhận đến 5 ha để trồng chè. Nhưng thực tế trong quá trình làm, có hộ chưa trồng hết số đất này, có hộ lại sử dụng để trồng một số cây khác, có hộ lại không có đất mà mở rộng thêm diện tích. Dẫn đến tình trạng ở một số nơi “người có đất thì bỏ không, người muốn trồng thêm lại không có đất”. Để giải quyết vấn đề này, năm 2007, huyện Đầm Hà và nhiều xã đã tổng điều tra, sắp xếp lại quỹ đất, trong đó có sự điều chỉnh lại cho phù hợp tuy nhiên để tiến hành trồng được chè ngay ở những diện tích điều chỉnh là chưa thể.
Nếu từ 2004 đến 2007, diện tích trồng chè mới của Đầm Hà dao động từ 35,6-55 ha/năm, thì trong quý I năm 2008, số ha trồng mới chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong khi đó kế hoạch huyện giao cho các xã là trồng mới 80 ha/năm 2008. Nếu đến 2010 không thực hiện trồng hết diện tích dự án, thì việc đầu tư hệ thống nhà xưởng để chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho Đầm Hà sẽ khó khả thi.
Hiệu quả từ trồng chè là hết sức rõ ràng. Tuy nhiên, để bà con thực hiện trồng đúng, đủ diện tích, với hiệu quả tốt, là điều không phải một sớm một chiều. Sở dĩ gần 1 năm nay bà con không mặn mà với cây chè là bởi thiếu vốn, 12 triệu đồng hỗ trợ/ha đến nay không còn có giá trị như 4 năm trước. Công tác tuyên truyền để người dân hiểu giá trị lâu dài của cây chè là hết sức quan trọng, tuy nhiên cần phải bằng việc nhân rộng thông qua những mô hình. Huyện cần giao cho từng tổ chức, đoàn thể xây dựng mô hình cụ thể, có chỉ tiêu và được giám sát chặt chẽ, để bà con học tập. Huyện cũng cần đảm bảo về mức thu mua chè ổn định, hoàn thiện cơ sở chế biến ngay tại địa phương, góp phần tạo tâm lý và đầu ra ổn định cho bà con. Và điều quan trọng là phải có cơ chế hỗ trợ vốn phù hợp với thời giá hiện nay.