Khu vực biển đảo rộng lớn của tỉnh ta được đánh giá là vùng động lực có nhiều lợi thế về địa lý, tài nguyên thiên nhiên. Quả thật, với chiều dài bờ biển 250 km và vùng biển rộng đến 6.000 km2 với trên 2.000 đảo lớn nhỏ, trong đó hơn 20 đảo có dân sinh sống tập trung tới hàng vạn người ẩn chứa một tiềm năng lớn phát triển kinh tế, du lịch và văn hoá.
Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương (thứ tư từ phải sang) thăm doanh nghiệp nuôi tu hài của anh Đỗ Hữu Tờ ở xã Bản Sen (Vân Đồn). Thế nhưng, trải qua nhiều năm, vùng biển đảo tỉnh ta vẫn là khu vực kinh tế chậm phát triển, có khá nhiều địa phương người dân còn bảo thủ về phương thức nuôi trồng, đánh bắt hải sản. Và sâu xa, cái sự nghèo khó của từng hộ gia đình buộc họ phải đối mặt với những chật vật lo toan thường nhật nên sống trên vùng biển bạc, mong muốn giàu có vẫn xa vời như những giấc mơ.
Để khơi dậy tiềm năng biển đảo, ngay từ tháng 6-1995 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ có Thông báo số 750 TB/T.U và đến ngày 30-10-1997 có tiếp Thông báo số 237 về phát triển kinh tế - xã hội vùng biển đảo khẳng định quyết tâm đưa một khu vực lớn vươn dậy làm giàu.
Vùng biển đảo có nhiều ưu thế nổi bật, đó là "tài sản" hệ thống cảng biển như Cái Lân, Hòn Gai, Mũi Chùa, Vạn Gia, Con ong, Hòn Nét. Trong quy hoạch cụm cảng Hòn Miều gắn kết với thành phố cửa khẩu Móng Cái, cảng Nam Triệu sẽ khơi dậy thế mạnh của khu vực nông nghiệp nông thôn rộng lớn của Yên Hưng nối liền với hệ thống đường sắt, mở ra tương lai tươi sáng có ý nghĩa to lớn tới cả vùng đồng bằng sông Hồng. Riêng huyện Vân Đồn có 53 di tích lịch sử văn hoá đã tạo thêm những nét văn hoá đặc sắc cho vùng biển đảo. Những giá trị văn hóa phi vật thể như hò biển, các lễ hội đua thuyền ở vùng đảo Quan Lạn, Minh Châu tăng thêm nét quyến rũ du khách tham quan. Nhiều cơ sở du lịch được cải tạo, trong đó có 12 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn 193 triệu USD được tập trung cho du lịch biển đảo. Vùng biển đảo tỉnh ta là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước và có khả năng phát triển cả khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ hải sản, có thể cho phép khai thác mỗi năm 25-30 ngàn tấn hải sản các loại. Ở đây có những loài thuỷ sản "đặc hữu" như tôm xanh ở vùng biển Hải Hà, tu hài ở Vân Đồn... và gần đây môi trường sinh thái trong lành vùng biển tỉnh ta đã xuất hiện một số loài thuỷ sản quý hiếm như cá nàng tiên (bò biển), rùa biển và cá heo. Vùng biển Quảng Ninh tiếp cận trực tiếp với khu vực đông nam Trung Quốc, một thị trường lớn đang phát triển có cửa khẩu quốc tế Móng Cái và được Chính phủ áp dụng một số chính sách ưu đãi nên rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế. Sự kiện thành lập Khu kinh tế Vân Đồn và cụm cảng Hòn Miều (Hải Hà) mở ra cho kinh tế biển một hướng vươn lên mạnh mẽ. Ngày 17-1-1998 HĐND tỉnh có Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội biển đảo đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đã thu hái được những kết quả khả quan.
Năm 2002 sản lượng thuỷ sản đạt 41.000 tấn, tăng gấp 2 lần năm 2000, giá trị kim ngạch xuất khẩu chiếm từ 10-17% tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh và chiếm gần 70% kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp địa phương, bước đầu đã huy động được nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực thuỷ sản với quy mô và công nghệ tiên tiến, giải quyết việc làm thường xuyên cho hơn 30.000 lao động, góp phần khá nhanh chóng cải thiện đời sống của nông, ngư dân. Một số sản phẩm vùng biển đảo có sức cạnh tranh trên các thị trường Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản. Từ thực tế đó Nghị quyết số 17-NQ/TU-2003 của Tỉnh ủy đã xác định rõ mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế thuỷ sản đến 2010 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và trở thành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Qua đó định hướng phát triển đồng bộ nuôi trồng, khai thác, chế biến gắn với bảo vệ nguồn lợi và môi trường sinh thái phấn đấu tổng sản lượng thuỷ sản tăng bình quân từ 11% đến 12% năm; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng từ 22% đến 25% năm.
10 năm qua, từ một khu vực nghèo nàn, chậm phát triển, hiện nay vùng biển đảo tỉnh Quảng Ninh đã có những thay đổi cơ bản về xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội. Ở Vân Đồn đã tăng số xã và thị trấn có điện lưới quốc gia từ 3 lên 7 đơn vị, từ 1 lên 10 trường học cao tầng, 6 cơ sở y tế đạt chuẩn quốc gia, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản bình quân 2.600 tấn/năm lên 8.000 tấn/ năm. Từ không có, đến nay 5 xã đảo xa đều có từ 1 đến 2 bến cập tàu. Toàn bộ hệ thống giao thông các xã đảo được đầu tư 95 tỷ đồng từ vốn chương trình Biển Đông, hải đảo và vốn hạ tầng du lịch. Riêng từ 2001 đến 2005 Vân Đồn có 219 công trình, dự án đã hoàn thành với tổng mức đầu tư 148,11 tỷ đồng. ỞCô Tô, từ 1998 đến nay vốn xây dựng cơ bản trên địa bàn là hơn 200 tỷ đồng, trong đó riêng vốn Biển Đông, hải đảo hơn 100 tỷ đồng. Huyện đã có một số công trình trọng điểm như trường THPT, 2 cầu cảng ở Cô Tô, Thanh Lân có giá trị đầu tư 21,4 tỷ đồng. Hồ chứa nước C4 trữ lượng 160.000m3 có giá trị xây dựng 7,2 tỷ đồng. 3 đảo lớn của Cô Tô đã hoàn chỉnh hệ thống đường nhựa, đường bê tông xuyên đảo dài hơn 30km. Hệ thống thông tin liên lạc bằng viba và di động được đầu tư khá lớn đảm bảo liên lạc thông suốt. Gần đây Cô Tô được phê duyệt xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá rộng 50 ha với tổng vốn đầu tư 2.000 tỷ đồng cho khu vực Bắc Vịnh Bắc Bộ sẽ giúp cho huyện có cơ sở phát triển thuận lợi. Thị xã Móng Cái với chiều dài bờ biển hơn 50km, diện tích vùng nội thuỷ rộng 16.067ha. Từ sau 1998 hệ thống cảng biển của Móng Cái được xây dựng đồng bộ với vốn đầu tư lớn đến nay 3 cụm cảng của thị xã hàng hoá thông qua đạt 16.000 tấn. Thị xã có gần 800 tàu đánh bắt cá năm 2006 đạt sản lượng hơn 3.000 tấn, diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 1.167 ha. Phát triển biển đảo được xác định là mũi nhọn kinh tế của Móng Cái. Khai thác kinh tế biển là một thế mạnh đã được khẳng định. Đến nay toàn tỉnh có 7.194 phương tiện đánh bắt thủy sản và mở rộng diện tích nuôi trồng hải sản lên 18.727 ha.
Cuối năm 2006 chúng tôi có dịp theo đoàn giám sát đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 04 năm 1998 của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế biển đảo. Điều cảm nhận rõ ràng là chương trình phát triển kinh tế biển đảo với sự đầu tư dài hơi, đều đặn sau 10 năm đã xoá dần những tàn tích lạc hậu, các cơ sở điện, đường, trường, trạm cơ bản hoàn thành làm thay da đổi thịt cả một vùng bờ biển, hải đảo rộng lớn, sản lượng đánh bắt hải sản tăng nhanh, diện tích nuôi trồng mở rộng, đã đưa một số xã đảo có bước phát triển văn minh, hiện đại, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.