Mấy năm trở lại đây, hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) tại Quảng Ninh có nhiều kết quả đáng ghi nhận. Xuất phát từ ý nghĩa, lợi ích vừa giải quyết việc làm, tạo thu nhập và tích luỹ vốn cho người lao động, vừa tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, công tác XKLĐ đã được đưa thành nội dung trong một số chỉ thị, nghị quyết của tỉnh về thực hiện chương trình giải quyết việc làm, đào tạo nghề từ năm 2001. Thực hiện mục đích trên, Quảng Ninh đã mở cửa thị trường lao động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh hoạt động XKLĐ; có chính sách trợ cấp, hỗ trợ vốn vay cho lao động đi xuất khẩu...
Một lớp học ngoại ngữ của Trung tâm Đào tạo XKLĐ (Công ty CP đầu tư XNK Quảng Ninh).
Riêng về thị trường Malaysia, có thể nói đây là thị trường ổn định, nhu cầu tiếp nhận tăng đột biến so với vài năm trước. Malaysia hiện vẫn đang có nhu cầu tiếp nhận lao động Việt Nam, tuy nhiên đây lại là thị trường lao động có thu nhập thấp so với một số nước khác. Hiện tại, Đài Loan đang dừng việc tiếp nhận lao động giúp việc gia đình; Hàn Quốc mới mở cửa tiếp nhận lao động Việt Nam từ cuối năm 2005, nhưng lại thay đổi phương thức tiếp nhận lao động. Một số thị trường mới có tiềm năng như Canada, Macao, úc hiện vẫn đang trong giai đoạn thí điểm. Đây là những thị trường đòi hỏi lao động phải có tay nghề cao, trong khi đó số lao động của Quảng Ninh đưa đi chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ rất hạn chế (số lao động không có nghề chiếm 44,5% trong tổng số lao động đã xuất khẩu).
Thực tế số LĐ Quảng Ninh đăng ký đi XKLĐ chủ yếu là nông dân, trình độ dân trí thấp, chỉ có thể được tiếp nhận tuyển chọn vào làm việc ở những thị trường có nhu cầu LĐ phổ thông. Tuy nhiên, đây lại là nguồn dồi dào đối với các doanh nghiệp XKLĐ. ở các vùng nông thôn, lực lượng LĐ tốt nghiệp phổ thông chưa có việc làm nhiều; việc chuyển dịch quỹ đất nông nghiệp sang quỹ đất phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị khiến cho nhiều nông dân mất việc làm và thu nhập. Qua thống kê đã có 8.000 hộ nông dân bị thu hồi đất, trong số này mới chỉ có 6,1% được làm việc tại các khu công nghiệp. Dự tính đến năm 2010, tỉnh sẽ tiếp tục thu hồi thêm 3.000 ha đất nông nghiệp, kéo theo 15.000 nông dân có nguy cơ thất nghiệp. Trong tương lai, nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài của số LĐ này là rất lớn. Hiện tại, các doanh nghiệp đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức giới thiệu việc làm, các hội đoàn thể trong việc tư vấn, hướng dẫn, giúp người LĐ lập hồ sơ tại địa phương, sau đó mở lớp đào tạo, giáo dục định hướng, tổ chức khám sức khoẻ và giải quyết thủ tục xuất cảnh cho người LĐ, kết quả 14/14 huyện, thị xã, thành phố đều đã có LĐ đi xuất khẩu. Mặc dù vậy, số lượng XKLĐ còn thấp so với bình quân chung của cả nước. Có doanh nghiệp tổ chức đăng ký tuyển LĐ nhưng không cử được cán bộ có năng lực, có thẩm quyền để giải quyết các công việc liên quan, dẫn đến chất lượng LĐ được tuyển chọn còn hạn chế về trình độ, sức khoẻ nên vẫn còn một tỷ lệ nhỏ LĐ bị trả về do không đảm bảo tiêu chuẩn. Còn có tình trạng khoán phí thông qua đầu hồ sơ hoặc liên kết với cơ sở dịch vụ việc làm ngoài công lập (không được cấp phép hoạt động) để thông báo tuyển LĐ xuất khẩu; vẫn thấy xuất hiện trường hợp thu tiền ngoài quy định của người LĐ, nguyên nhân do không công khai minh bạch đầy đủ các chi phí mà người LĐ phải đóng góp. Chính sách hỗ trợ đào tạo của tỉnh còn chưa bình đẳng. Đối với LĐ đi xuất khẩu thông qua các doanh nghiệp thuộc các ngành T.Ư và tỉnh ngoài chưa được hưởng chính sách hỗ trợ như các LĐ đi thông qua 2 doanh nghiệp của tỉnh (mỗi LĐ được hỗ trợ 800.000 đồng). Công tác quản lý Nhà nước về kiểm tra xử lý các vi phạm pháp luật lao động về XKLĐ chưa được thực hiện tốt tại nhiều địa phương. Đây là những yếu tố làm giảm uy tín đối với người LĐ và làm giảm năng lực cạnh tranh phát triển XKLĐ.
Chính sách hỗ trợ vốn vay là vấn đề quan tâm nhiều nhất của người LĐ. Mặc dù tỉnh đã có một số quyết định về hỗ trợ vốn vay cũng như áp dụng bù chênh lệch lãi suất cho những người đi XKLĐ, nhưng trên thực tế, số đối tượng được vay vốn (chưa nói tới được vay ưu đãi) là thấp. Hiện tại, mới chỉ có 2 ngân hàng là Ngân hàng Chính sách – Xã hội và Ngân hàng NN PTNT thực hiện việc cho các đối tượng XKLĐ vay vốn, nhưng nguồn vốn cho vay cũng rất hạn hẹp, không đáp ứng đủ nhu cầu của người LĐ. Một số chi nhánh của các ngân hàng thương mại chưa tích cực tạo điều kiện cho người LĐ có nhu cầu được vay vốn. Bà Vũ Thị Giang, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh đề nghị: “Cần tăng nguồn vốn XKLĐ cho Hội Nông dân để tạo thêm nhiều cơ hội cho nông dân đi lao động ở nước ngoài, cải thiện cuộc sống vốn rất khó khăn của những hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất”. Tuy nhiên, theo ông Phạm Văn Cung, Phó Giám đốc Ngân hàng Chính sách – Xã hội tỉnh thì Ngân hàng đang chịu sức ép lớn và rất bị động về nguồn vốn cho vay XKLĐ. Hiện nay quỹ vốn của Ngân hàng dành cho hoạt động này là 9,6 tỷ đồng, nhưng vẫn có nguy cơ thiếu, trong khi cho vay XKLĐ tối đa là 20 triệu đồng/LĐ. Một khó khăn nữa của Ngân hàng là vấn đề thu hồi vốn, xử lý rủi ro đối với LĐ quay trở về...
Về phía các doanh nghiệp hoạt động XKLĐ, cũng có một số ý kiến phàn nàn ý thức của người LĐ, tư tưởng người LĐ không chuẩn bị tốt khi đến nơi tập trung đào tạo; kết quả khám sức khoẻ của người LĐ nhiều khi không đúng với thực tế (lỗi do nơi khám sức khoẻ), dẫn đến phía đối tác không chấp nhận khi khám lại; thủ tục làm hộ chiếu còn mất nhiều thời gian, ảnh hưởng tới quy trình đưa người LĐ đi sang nước ngoài làm việc...
Mở rộng thị trường, đa dạng hoá các hình thức XKLĐ, phấn đấu đưa được từ 1.500 đến 2.000 người ra nước ngoài làm việc là mục tiêu của Quảng Ninh trong năm 2007. Đứng trước những khó khăn về vốn vay; nguồn lao động có chuyên môn, trình độ ngành nghề; trách nhiệm của các cấp chính quyền và doanh nghiệp đối với quyền lợi chính đáng của người LĐ..., mục tiêu XKLĐ của năm 2007 và những năm tiếp theo đang đặt ra nhiều việc cần làm của chính quyền các cấp và các ngành liên quan.