Để phục vụ cho công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII, Văn phòng Quốc hội vừa biên soạn cuốn “Hỏi đáp về bầu cử Đại biểu Quốc hội”. Từ số báo hôm nay Báo Quảng Ninh xin giới thiệu nội dung cuốn sách này.
Hỏi: Vị trí, chức năng của Quốc hội được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời: Vị trí, chức năng của Quốc hội được Hiến pháp năm 1992 xác định như sau: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Hỏi: Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn như thế nào?
Trả lời: Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau đây:
- Tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của Tổ đại biểu Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội.
- Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.
- Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
- Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và cơ quan Nhà nước hữu quan. Ngoài ra, Đại biểu Quốc hội còn có các nhiệm vụ, quyền hạn khác được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Quốc hội.
Hỏi: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII có ý nghĩa chính trị như thế nào?
Trả lời: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội là ngày hội lớn để nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình, trực tiếp lựa chọn những đại biểu xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
Quốc hội có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rất quan trọng trong hệ thống chính trị. Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được đánh giá bởi chất lượng của đại biểu Quốc hội. Do đó, việc lựa chọn để bầu ra những đại biểu xứng đáng sẽ có ý nghĩa lớn đối với việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ đó góp phần quan trọng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Hỏi: Tại sao nói bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân?
Trả lời: Quyền bầu cử là một quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định, bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước.
Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu. Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Do đó, bầu cử vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân. Vì, thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu tín nhiệm bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thựchiện quyền lực nhà nước; thông qua bầu cử mà nhân dân góp phần tham gia việc thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.
Hỏi: Việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành theo những nguyên tắc nào?
Trả lời: Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội việc bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đó cũng là những tư tưởng chỉ đạo trong việc tổ chức bầu cử, thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ta.
Nguyên tắc bầu cử được thể hiện chặt chẽ, thống nhất và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Nguyên tắc bầu cử yêu cầu phải quy định rõ quyền và trách nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm các quy định về bầu cử.
Hỏi: Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là gì?
Trả lời: Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử có nội dung bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử.
Luật bầu cử đạibiểu Quốc hội quy định:
- Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử;
- Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân;
- Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhấttrong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội);
- Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri;
- Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là ba mươi ngày, trước ngày bầu cử;
- Danh sách những người ứng cử cũng được lập và niêm yết công khai chậmnhất là hai mươi lăm ngày trước ngày bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn;
- Phải có quá nửa số cử tri ghi tên trong danh sách của đơn vị bầu cử đi bỏ phiếu thì cuộcbầu cử mới có giá trị; việc kiểm phiếu phải được tiến hành công khai có sự chứng kiến của đại diện cử tri, đại diện người ứng cử và đại diện các cơ quan thông tin báo chí.
Hỏi: Thế nào là nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử?
Trả lời: Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệtdưới bất cứ hình thức nào. Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân:
- Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú;
- Mỗi người chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử;
- Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu.
Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểusố và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng trong Quốc hội.
Hỏi:Thế nào là nguyên tắc bầu cử trực tiếp?
Trả lời: Bầu cử trực tiếp có nghĩalà công dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, công dân trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. ở một số nước, cử tri bầu ra đại diện cử tri, đại diện cử tri mới là người bầu ra đại biểu. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và bầu.
Hỏi: Thế nào là nguyên tắc bỏ phiếu kín?
Trả lời: Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hộiđược tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tác này, cử tri bầu ai,không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Hỏi: Quyền bầu cử là gì? Những ai có quyền bầu cử?
Trả lời: Quyền bầu cử là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử. Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu cử.
Tuy nhiên, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội cũng quy định người bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật, người phải chấp hành hình phạt tù, người bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự nếu đến trước thời điểm bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả tự do hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì có quyền được bổ sung vào danh sách.
Hỏi: Quyền bầu cử là gì? Những ai có quyền bầu cử?
Trả lời: Quyền bầu cử là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử. Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấphành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu cử.
Tuy nhiên, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội cũng quy định người bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật, người phải chấp hành hình phạt tù, người bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự nếu đến trước thời điểm bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả tự do hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì có quyền được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri. Ngược lại, người có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị toà án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự, thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xoá tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.
Hỏi: Quyền ứng cử là gì? Những ai có quyền ứng cử?
Trả lời: Quyền ứng cử là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử. Để được bầu làm đại biểu Quốc hội, người ứng cử còn phải bảo đảm những tiêu chuẩn theo quy định. Cử tri căn cứ vào các tiêu chuẩn này để lựa chọn bầu các đại biểu Quốc hội.
Hỏi: Tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội là gì?
Trả lời: Để đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn cách mạng mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc qui định về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội là vấn đề rất cần thiết. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội quy định đại biểu Quốc hội có những tiêu chuẩn sau đây:
1. Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;
2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật;
3. Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước;
4. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;
5. Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.
Hỏi:Thế nào là bầu cử dân chủ, đúng pháp luật?
Trả lời: Một cuộc bầu cử được coi là dân chủ và đúng pháp luật nếu cuộc bầu cử đó được tiến hành tuân thủ theo đúng các quy định pháp luật và dân chủ. Hệ thống quy định pháp luật này phải bảo đảm các yếu tố sau đây:
- Việc bỏ phiếu phải tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín;
- Bảo đảm các quyền bầu cử, quyền ứng cử; quyền vận động bầu cử. Quy định cụ thể những trường hợp bị tước quyền bầu cử, ứng cử; những trường hợp không được thực hiện quyền bầu cử, ứng cử và những trường hợp không tham gia bầu cử;
- Bảo đảm quyền của cử tri nơi người ứng cử công tác, làm việc, cư trú được nhận xét, bày tỏ ý kiến của mình về sự tín nhiệm đối với người ứng cử;
- Quy định rõ trình tự, thủ tục, quy trình các bước giới thiệu người ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, bầu bổ sung, bầu cử lại, bầu cử thêm để đảm bảo lựa chọn được những người xứng đáng ứng cử đại biểu Quốc hội;
- Quy định rõ tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác bầu cử;
- Việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về bầu cử phải được thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng; các vi phạm về bầu cử phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Hỏi:Uỷ ban Thường vụ Quốchội có vai trò như thếnào đối với cuộc bầu cử đạibiểu Quốc hội?
Trả lời:Uỷ ban Thường vụ Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; giám sát việc bầu cử, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hộitrong việc bầu cử đại biểu Quốc hội được pháp luật quy định cụ thể như sau:
- ấn định, công bố ngày bầu cử và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội;
- Giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật.
- Thành lập Hội đồng bầu cử ở Trung ương;
- Dự kiến về cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội; số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương;
- Điều chỉnh lần thứ nhất và lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương và địa phương được bầu làm đại biểu Quốc hội.
- Dự kiến số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗitỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số, số đại biểu là phụ nữ;
- ấn định số đơn vị bầu cử, danh sách các đơnvị và số đại biểu của mỗi đơn vị;
- Quyết định việc bầu cử bổ sung và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội.
Hỏi: Chính phủ có vai trò như thế nào đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ?
Trả lời: Chính phủ giữ vai trò rất quan trọng đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội, điều này thể hiện qua nhiệm vụ và quyền hạncủa Chính phủ như sau:
- Chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội theo nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan;
- Cử đại diện tham gia Hội đồng bầu cử;
- Đề nghị với Hội đồng bầu cử việc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng;
- Chính phủ có nhiệm vụ chỉ đạo các cơ quan thuộc Chính phủ như Bộ Nội vụ tham gia phối hợp với các cơ quan hữu quan khác như Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội;
- Tham dự các hội nghị hiệp thương để thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu làm đại biểu Quốc hội; lựa chọn, giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội.
- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và thực hiện các quy định khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ.
Hỏi: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò như thế nào trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội?
Trả lời: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, vai trò này được thể hiện qua các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau:
- Tổ chức các hội nghị hiệp thương để thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người ứng cử đại biểu Quốc hội; lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội; lập danh sách sơ bộ và danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội; lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác (nếu có) về những người ứng cử đại biểu Quốc hội;
- Tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội;
- Tham gia ý kiến với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong việc dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, lựclượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương;
- Tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử ở các cấp như Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức công tác bầu cử;
- Tổ chức để những người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri và vận động bầu cử.
Hỏi: Thường trực HĐND các cấp có vai trò như thế nào trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội?
Trả lời: Thường trực HĐND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật. Vai trò của Thường trực HĐND các cấp được thể hiện qua các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Thường trực HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử và cử đại diện tham gia Uỷ ban bầu cử vào Ban bầu cử;
- Chủ tịch HĐND xã, phường, thị trấn quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử và cử đại diện HĐND tham gia Tổ bầu cử.
- Thường trực HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được mời dự các hội nghị hiệp thương do Uỷ ban MTTQ Việt Nam cùng cấp tổ chức thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người ứng cử đại biểu Quốc hộiđể lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và lập danh sách sơ bộ, danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội;
- Chủ tịch HĐND xã, phường, thị trấn được Tổ bầu cửgửi biên bản kết quả kiểm phiếu; Thường trực HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư được Ban bầu cử gửi biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử, được Uỷ ban bầu cử gửi biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương;
- Trong việc bầu cửbổ sung, Thường trực HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư quyết định thành lập Ban bầu cử bổ sung ở đơn vị bầu cử; Chủtịch HĐND xã quyết định thành lập Tổ bầu cử bổ sung ở khu vực bỏ phiếu. Chủ tịch HĐND xã, phường, thị trấn được gửi biên bản kiểm phiếu từ Tổ bầu cử, Thường trực HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng được gửi biên bản xác định kết quả bầu cử bổ sung từ Ban bầu cử.
Hỏi: Uỷ ban Nhân dân các cấp có vai trò như thế nào trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội?
Trả lời: Uỷ ban Nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản của Chính phủ, của các cơ quan cấp trên về bầu cử đại biểu Quốc hội.
Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
- Tham gia ý kiến trong việc thành lập Uỷ ban bầu cử và Ban bầu cử cử đại diện tham gia Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử; Uỷ ban Nhân dân cấp xã tham gia ý kiến trong việc thành lập Tổ bầu cử và cử đại diện tham gia vào Tổ bầu cử;
- Được mời dự các hội nghị hiệp thương do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để thoả thuận cơ cấu, thành phần và số lượng người ứng cử đại biểu Quốc hội để lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội; và lập danh sách sơ bộ, danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội;
Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn:
- Quyết định việc chia khu vực bỏ phiếu và được Uỷ ban Nhân dân cấp trên trực tiếp phê duyệt;
- Lập danh sách cử tri theo khu vực bỏ phiếu; cấp giấy chứng nhận khi cử tri vì đi nơi khác không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri;
- Bổ sung vào danh sách cử tri, theo quy định của pháp luật;
- Cùng với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp triệu tập và chủ trì Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn theo đơn vị thôn xóm, tổ dân phố, buôn, bản, ấp nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử để lấy ý kiến và tín nhiệm của cử tri đối với người ứng cử;
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị xác minh và trả lời bằng văn bản các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử, người tự ứng cử.
- Được Tổ bầu cử gửi biên bản kết quả kiểm phiếu; Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Ban bầu cử gửi biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử, được Uỷ ban bầu cử gửi biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương;
Trong việc bầu cử bổ sung, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trao đổi ý kiến với Thường trực Hội đồng Nhân dân cùng cấp để thành lập ở đơn vị bầu cử Ban bầu cử bổ sung; Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn trao đổi ý kiến với Chủ tịch Hội đồng Nhân dân cùng cấp để thành lập Tổ bầu cử bổ sung ở mỗi khu vực bỏ phiếu.
Hỏi: Kinh phí bầu của đại biểu Quốc hội được quy định như thế nào ?
Trả lời: Kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội do ngân sách nhà nước bảo đảm. Kinh phí bầu cử được phân bổ trên cơ sở nguyên tắc chung là dựa theo số cử tri của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đồng thời có tính đến đặc điểm và tình hình thực tế của một số địa phương.
Kinh phí bầu cử được chi cho các việc chuẩn bị triển khai, tiến hành và tổng kết bầu cử. Các chi phínày bao gồm in ấn các tài liệu, biểu mẫu, thẻ cử tri, mẫu biên bản, các chi phí về mua sắm hòm phiếu, khắc con dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử, chi phí và bồi dưỡng cho cán bộ, nhân viên phục vụ cho cuộc bầu cử và các khoản chi phí cần thiết khác theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Việc chi tiêu kinh phí bầu cử phải trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả. Các phương tiện của cuộc bầu cử trước đây còn sử dụng được thì tận dụng để phục vụ cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XII lần này.
Hỏi: Tổng số đại biểu Quốc hội khoá XII được bầu là bao nhiêu người?
Trả lời:Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, tổng số đại biểu Quốc hội được bầu không quá 500 người và được phân bổ cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Hỏi: Việc phân bổ đại biểu Quốc hội của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do ai dự kiến và theo căn cứ nào?
Trả lời: Việc phân bổ đại biểu Quốc hội của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội dự kiến và dựa trên các căn cứ sau:
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất ba đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương;
- Số đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương;
- Thủ đô Hà Nội được phân bố số đại biểu thích đáng.
Hỏi: Số đại biểu là người dân tộc thiểu số là bao nhiêu?
Trả lời: Số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số do Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng.
Hỏi: Số đại biểu là phụ nữ là bao nhiêu?
Trả lời: Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng.
Hỏi: Đơn vị bầu cử là gì? Việc ấn định số đơn vị bầu cử và danh sách các đơn vị bầu cử được tiến bành như thế nào?
Trả lời: Đơn vị bầu cử là khái niệm chỉ một phạm vi địa lý hành chính với số lượng dân cư nhất định, được bầu một số lượng đại biểu Quốc hội nhất định (theo quy định của pháp luật hiện hành thì một đơn vị bầu cử được bầu không quá ba đại biểu Quốc hội). Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được chia thành các đơn vị bầu cử. Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số đại biểu của mỗi đơn vị được tính theo số dân.
Hỏi: Khu vực bỏ phiếu là gì? Việc phân chia đơn vị bỏ phiếu được tiến hành như thế nào?
Trả lời: Để việc bỏ phiếu được thuận tiện, mỗi đơn vị bầu cử được chia ra thành nhiều khu vực bỏ phiếu. Các khu vực bỏ phiếu trong cùng một đơn vị bầu cử có chung một danh sách ở một đơn vị bầu cử.
Việc chia khu vực bỏ phiếu do UBND xã, phường, thị trấn lập và được UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập những khu vực bỏ phiếu riêng hoặc đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có thể có chung một khu vực bỏ phiếu.
Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến hai nghìn cử tri. ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới ba trăm cử tri cũng được thành lập một khu vực bỏ phiếu.
Bệnh viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, nhà nuôi người tàn tật có từ năm mươi cử tri trở lên có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.
Cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đối với những người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.
Hỏi: Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội gồm những tổ chức nào?
Trả lời: Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội gồm có:
- Hội đồng bầu cử ở trung ương;
- Uỷ ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử;
- Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu.
Hỏi: Hội đồng bầu cử được thành lập khi nào? Thành phần, số lượng thành viên Hội đồng bầu cử được quy định như thế nào?
Trả lời: Chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử từ mười lăm đến hai mươi mốt người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các Uỷ viên là đại diện Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Hỏi: Hội đồng bầu cử có nhiệm vụ, quyền hạn gì?
Trả lời: Hội đồng bầu cử có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Lãnh đạo việc tổ chức bầu cử trong cả nước; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội;
- Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử;
- Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử;
- Nhận và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội; gửi tiểu sử tóm tắt của những người ứng cử đến Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Nhận hồ sơ và danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội do Uỷ ban bầu cử gửi đến;
- Quy định mẫu thể cử tri và phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội;
- Lập và công bố danh sách những ngưới ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước;
- Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Uỷ ban bầu cử hoặc Ban bầu cử chuyển đến; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử;
- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử gửi đến; làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước;
- Xét và quyết định việc bầu cử lại, bầu cử thêm hoặc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;
- Công bố kết quả bầu cử trong cả nước;
- Cấp giấy chứng nhận cho đại biểu trúng cử;
- Trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội khoá mới biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước và những hồ sơ, tài liệu về bầu cử.
Hỏi: Uỷ ban bầu cử được thành lập khi nào? Thành phần, số lượng thành viên Uỷ ban bầu cử được quy định như thế nào?
Trả lời: Chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập Uỷ ban bầu cử từ bảy đến mười một người, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
Hỏi: Uỷ ban bầu cử có nhiệm vụ, quyền hạn gì?
Trả lời: Uỷ ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức bầu cử ở các đơn vị bầu cử; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành những quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử, Tổ bầu cử;
- Chỉ đạo thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử ở địa phương;
- Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử ở địa phương;
- Nhận và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở địa phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và hồ sơ của người tự ứng cử đại biểu Quốc hội; gửi danh sách trích ngang và tiểu sử tóm tắt của những người được giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đến Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- In tài liệu bầu cử; in thẻ cử tri và phiếu bầu cử theo mẫu của hội đồng bầu cử;
- Lập danh những người ứng cử theo đơn vị bầu cử và báo cáo Hội đồng bầu cử;
- Kiểm tra việc thành lập và niêm yết danh sách cử tri;
- Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Ban bầu cử; Tổ bầu cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Ban bầu cử; Tổ bầu cử chuyển đến; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử;
- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử; lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương;
- Thông báo kết quả bầu cử ở địa phương;
- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử;
- Chuyển hồ sơ, biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử;
- Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm theo quyết định của Hội đồng bầu cử.