Hỏi - đáp về bầu cử Đại biểu Quốc hội (tiếp theo)

Hỏi: Ban bầu cử được thành lập khi nào? Thành phần, số lượng thành viên Ban bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ chín đến mười lăm người, gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.

Hỏi: Ban bầu cử có nhiệm vụ, quyền hạn gì?|

Trả lời: Ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của các Tổ bầu cử;

- Kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu;

- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;

- Phân phối thẻ cử tri, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là năm ngày trước ngày bầu cử;

- Niêm yết danh sách những người ứng cử trong đơn vị bầu cử;

- Kiểm tra công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;

- Nhận và kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến, làm biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử để gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử và thông báo kết quả đó;

- Nhận và chuyển đến Uỷ ban bầu cử khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của các Tổ bầu cử;

- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử và Uỷ ban bầu cử;

- Giao hồ sơ, tài liệu về bầu cử cho Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm.

Hỏi: Tổ bầu cử được thành lập khi nào? Thành phần, số lượng thành viên Tổ bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban Nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ năm đến mười một người, gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và đại diện cử tri ở địa phương.

Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu của mình một Tổ bầu cử từ năm đến chín người, gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các Uỷ viên là đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân.

Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì Chủ tịch Hội đồng Nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất với Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốccùng cấp và chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân, quyết định thành lập Tổ bầu cử từ năm đến mười một người, gồm đại diện Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, đại diện chỉ huy đơn vị, đại diện quân nhân và đại diện cử tri ở địa phương.

Hỏi: Tổ bầu cử có nhiệm vụ, quyền hạn gì?

Trả lời: Tổ bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Tổ chức việc bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;

- Bố trí phòng bỏ phiếu và chuẩn bị hòm phiếu;

- Phát thẻ cử tri cho cử tri chậm nhất là hai ngày trước ngày bầu cử, trừ những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; phát phiếu bầu cử cho cử tri có đóng dấu của Tổ bầu cử;

- Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu;

- Kiểm phiếu và làm biên bản kết quả kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử;

- Giao biên bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn;

- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên;

- Tổ chức thực hiện việc bầu cử lại, bầu cử thêm.

Hỏi: Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử có được vận động cho những người ứng cử không?

Trả lời: Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử không được vận động bầu cử cho những người ứng cử.

Các thành viên của các tổ chức phụ trách bầu cử nói trên không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vận động bầu cử cho những người ứng cử nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng đối với những người ứng cử.

Hỏi: Các tổ chức phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ nào?

Trả lời: Các tổ chức phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ tập thể; các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa số thành viên biểu quyết tán thành.

Hỏi: Các tổ chức phụ trách bầu cử chấm dứt hoạt động khi nào?

Trả lời: Hội đồng bầu cử hết nhiệm vụ sau khi đã trình Quốc hội khoá mới biên bản tổng kết cuộc bầu cử và hồ sơ, tài liệu về bầu cử. Các Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ sau khi Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử trong cả nước.

Hỏi: Các tổ chức phụ trách bầu cử trưng tập người giúp việc như thế nào?

Trả lời: Các tổ chức phụ trách bầu cử có thể trưng tập cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội giúp việc theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng bầu cử, Chủ tịch Uỷ ban bầu cử hoặc Trưởng ban bầu cử.

Hỏi: Cử tri là ai ?

Trả lời: Cử tri là người được quyền bầu cử. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật đều có quyền bầu cử.

Hỏi: Cách tính tuổi để ghi vào danh sách cử tri ?

Trả lời: Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử được quy định như sau:

- Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định. Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử.

Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh (dương lịch) của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh (dương lịch) của năm sau.

- Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

Hỏi: Những người nào không được ghi tên vào danh sách cử tri?

Trả lời: Những người không được ghi tên vào danh sách cử tri là: người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự.

Người đang bị tạm giam nói trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội là những bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự tuy chưa phải là những người bị Toà án kết án nhưng do tính chất của vụ án hình sự và theo những căn cứ quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự thì họ bị hạn chế quyền tự do để điều tra, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án phạt tù.

Hỏi: Trường hợp nào được bổ sung vào danh sách cử tri?

Trả lời: Những người mà cho đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri.

Hỏi: Trường hợp nào bị xóa tên khỏi danh sách cử tri?

Trả lời: Người đã có tên trong danh sách cử tri nếu đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Tòa án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt tạm giam, bị tuyên bố mất tích hoặc bị chết, bị mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án hoặc cơ quan hữu quan phải thông báo cho Uỷ ban nhân dân xã đã lập danh sách cử tri để xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.

Hỏi: Việc lập danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?

Trả lời: Danh sách cử tri là cơ sở pháp lý để cử tri nhận thẻ cử tri, thực hiện quyền bầu cử của mình. Vì vậy, pháp luật quy định rất chặt chẽ về việc lập danh sách cử tri.

Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi mình thường trú hoặc cư trú. Quy định như vậy nhằm bảo đảm để tất cả các cử tri đều được thực hiện quyền bầu cử. Mặt khác, nhằm bảo đảm sự bình đẳng trong bầu cử. Không ai có thể đi bỏ phiếu ở nhiều nơi.

Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên, đang cư trú tại nơi mình có hộ khẩu thường trú và không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và bầu cử đại biểu Quốc hội tại nơi đó.

- Trong thời hạn lập danh sách cử tri, những người chưa có hộ khẩu thường trú nhưng có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử.

- Trường hợp người tạm vắng khỏi nơi cư trú để đi lao động, làm ăn hoặc vì lý do khác, nếu đã đăng ký tạm trú từ sáu tháng trở lên ở nơi cư trú mới thìđược ghi tên vào danh sách cử tri tại địa phương nơi cư trú mới để thực hiện quyền bầu cử.

- Trường hợp người tạm vắng khỏi nơi cư trú để đi thăm người thân, đi du lịch hoặc vì lý do khác thì ghi tên vào danh sách cử tri nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để thực hiện quyền bầu cử.

- Sinh viên, học sinh, học viên có hộ khẩu tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử.

- Quân nhân có hộ khẩu thường trú tại địa phương (gần nơi đóng quân) có thể được Thủ trưởng đơn vị cấp giấy chứng nhận để ghi tên vào danh sách cử tri tham gia bỏ phiếu bầu cử ở nơi cư trú.

- Kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu, cán bộ, công chức nhà nước, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm công, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình thẻ cử tri do UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND xã) nơicư trú cấp hoặc giấy chứng nhận “đi bỏ phiếu nơi khác” do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp tại UBND xã nơi mới đến để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi đó; nếu họ chưa có thẻ cử tri hoặc giấy chứng nhận “đi bỏ phiếu nơi khác” thì UBND xã phải yêu cầu những người này liên hệ với UBND xã hoặc chỉ huy đơn vị nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận thẻ cử tri hoặc giấy chứng nhận “đi bỏ phiếu nơi khác” để được bầu cử ở nơi mới đến.

- Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được công bố đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến UBND xã nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú xuất trình hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri.

Hỏi: Việc niêm yết danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?

Trả lời: Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử, UBND xã, phường, thị trấn, chỉ huy đơn vị ở các đơn vị vũ trang nhân dân phải niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn và những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi việc niêm yết để nhân dân, người của đơn vị vũ trang nhân dân kiểm tra danh sách cử tri.

Hỏi: Trình tự, thủ tục giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị về danh sách cử tri được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai sót thì trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày niêm yết, mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị bằng miệng hoặc bằng văn bản tới cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải tiếp nhận và ghi vào sổ những khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị đó. Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị biết kết quả giải quyết.

Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị không đồng ý về cách giải quyết của cơ quan lập danh sách cử tri thì có quyền khiếu nại lên toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, Toà án phải giải quyết xong. Quyết định của toà án là quyết định cuối cùng.

Hỏi: Cử tri đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền bầu cử ở nơi khác không ?

Trả lời: Thông thường, mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở một nơi mình thường trú hoặc tạm trú.

Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi mới đến. Khi cấp giấy chứng nhận, UBND phải ghingay vào danh sách bên cạnh tên cử tri “Đi bỏ phiếu nơi khác”.

Hỏi: Người nào không được ứng cử đại biểu Quốc hội?

Trả lời: Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội là:

- Người đang bị tước quyền bầu cử, quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự.

- Người đang bị khởi tố về hình sự.

- Người đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án.

- Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án nhưng chưa được xoá án tích.

- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính.

Những người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bầu cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Hội đồng bầu cử xoá tên trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.

Hỏi: Thế nào là người được giới thiệu ứng cử và thế nào là người tự ứng cử?

Trả lời : Người được giới thiệu ứng cử là người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan Nhà nước ở trung ương hoặc địa phương giới thiệu để được xem xét đưa vào danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội.

Người tự ứng cử là người căn cứ vào quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và xét thấy mình có đủ tiêu chuẩn, trình độ, năng lực thì nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội tại Uỷ ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi mình ra ứng cử.

Hỏi: Hồ sơ ứng cử gồm những gì?

Trả lời: Hồ sơ ứng cử gồm có:

- Đơn xin ứng cử.

- Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó công tác hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó thường trú.

- Tiểu sử tóm tắt và 3 ảnh mầu cỡ 4cm x 6cm.

Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan Nhà nước ở trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội thì nộp hồ sơ ứng cử tại Hội đồng bầu cử. Người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương giới thiệu thì nộp hồ sơ tại Uỷ ban bầu cử nơi mình ứng cử.

Mẫu hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội do Hội đồng bầu cử ban hành thống nhất trong cả nước.

Hỏi: Thời hạn nộp hồ sơ ứng cử là bao lâu?

Trả lời: Người ứng cử đại biểu Quốc hội (người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) phải nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là sáu mươi lăm ngày trước ngày bầu cử.

Hỏi: Việc tiếp nhận hồ sơ ứng cử được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Hội đồng bầu cử và Uỷ ban bầu cử là cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội. Sau khi tiếp nhận và xem xét tính hợp lệ của hồ sơ ứng cử, Hội đồng bầu cử có trách nhiệm chuyển tiểu sử tóm tắt của người ứng cử đại biểu Quốc hội đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm chuyển tiểu sử tóm tắt của người ứng cử đại biểu Quốc hội đến Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để đưa vào danh sách hiệp thương.

Hỏi: Thời hạn gửi, lập và công bố danh sách những người ứng cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Thời hạn gửi danh sách những người ứng cử được quy định như sau:

- Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử danh sách chính thức những người được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.

- Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi đến Uỷ ban bầu cử danh sách chính thức những người được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.

- Chậm nhất là hai mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử lập và công bố danh sách những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước.

- Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử phải niêm yết danh sách những người ứng cử ở địa phương mình theo quyết định của Hội đồng bầu cử.

Hỏi: Danh sách những người ứng cử gồm những thông tin gì phải ghi rõ?

Trả lời: Danh sách những người ứng cử phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi làm việc của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C...

Hỏi: Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu ở đơn vị đó ít nhất là hai người, trừ trường hợp khuyết người ứng cử sau khi danh sách những người ứng cử đã được công bố do một hoặc một số người ứng cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị chết hoặc vì lý do khác phải xoá tên hoặc rút tên khỏi danh sách người ứng cử.

Trong trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người ứng cử trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử, chọn người có tín nhiệm cao nhất trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người có tín nhiệm cao nhất thì Uỷ ban bầu cử báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư người ứng cử từ ba người trở lên đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong số người đã đưa ra Hiệp thương lần thứ ba và không có đơn vị bầu cử nào có số dư người ứng cử từ ba người trở lên thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định giảm số đại biểu Quốc hội được bầu ở đơn vị bầu cử đó.

Hỏi: Trước khi lập danh sách những người ứng cử, cơ quan, tổ chức, đơn vị nào có trách nhiệm xác minh, trả lời các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử?

Trả lời: Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xác minh, trả lời các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử được phân loại thành ba nhóm theo sự việc và theo đối tượng. Cụ thể như sau:

1- Đối với vụ việc ở nơi công tác:

Cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người ứng cử có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Trường hợp người ứng cử là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xác minh và trả lời. Nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị không có cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ quan, tổ chức, đơn vị đó có trách nhiệm xác minh và trả lời.

2- Đối với vụ việc ở khu dân cư:

Cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

3- Đối với người tự ứng cử:

Uỷ ban bầu cử phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người đó hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử, việc xác minh và trả lời về các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử quy định tại điều này phải được tiến hành xong.

Hỏi: Sau khi công bố danh sách những người ứng cử, các khiếu nại và tố cáo về người ứng cử và các khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử được giải quyết như thế nào?

Trả lời: Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.

Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, uỷ ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.

Hỏi: Thời hạn tạm ngưng việc xem xét khiếu nại, tố cáo đối với người ứng cử được quy định như thế nào?

Trả lời: Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận, xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị mới về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử.

Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

Không xem xét, giải quyết đối với những đơn khiếu nại, tố cáo nặc danh. Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

Hỏi: Người ứng cử đại biểu Quốc hội có thể là thành viên của các tổ chức phụ trách bầu cử được không?

Trả lời: Người ứng cử không được làm thành viên Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị mình ứng cử. Nếu đã là thành viên của Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử ở đơn vị mình ứng cử thì người ứng cử phải rút ra khỏi danh sách thành viên của tổ chức phụ trách bầu cử đó kể từ ngày được ghi tên vào danh sách chính thức những người ứng cử.

Hỏi: Vận động bầu cử là gì? Phải bảo đảm những yêu cầu gì?

Trả lời: Vận động bầu cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc của người ứng cử với cử tri và các phương tiện thông tin đại chúng. Mục đích của việc tổ chức vận động bầu cử là tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội.

Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

- Dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;

- Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

- Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý các phương tiện thông tin đại chúngtrong vận động bầu cử;

- Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và ngoài nước cho tổ chức, cá nhân mình;

- Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;

- Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.

Hỏi: Việc vận động bầu cử được tiến hành bằng những hình thức nào?

Trả lời: Những người ứng cử đại biểu Quốc hội tiến hành vận đồng bằng hình thức gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri thông qua hội nghị tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức; trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Hỏi: Hội nghị tiếp xúc cử tri trong vận động bầu cử do ai tổ chức và có những nội dung gì?

Trả lời: Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì phối hợp với chính quyền địa phương ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

Tại hội nghị tiếp xúc cử tri, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu những nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để người ứng cử xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình. Đối với những người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.

Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm:

- Tuyên bố lý do;

- Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của từng người ứng cử;

- Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội;

- Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Cử tri và những người ứng cử trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;

- Người chủ trì hội nghị phát biểu kết thúc hội nghị.

Hỏi: Việc vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng được quy định như thế nào?

Trả lời: Việc vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội trên các phương tiện thông tin đại chúng được quy định như sau:

Người ứng cử đại biểu Quốc hội tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.

Hội đồng bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử của Hội đồng bầu cử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử;

Trên cơ sở chỉ đạo của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Văn hoá - Thông tin cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn từng người ứng cử đại biểu Quốc hội trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử đại biểu Quốc hội, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.

Hỏi: Các cơ quan báo chí có trách nhiệm gì đối với việc vận động bầu cử?

Trả lời: Đối với việc vận động bầu cử, các cơ quan báo chí ở Trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử. Bên cạnh đó, các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về Hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương.

Hỏi: Hội nghị hiệp thương là gì ? Ai triệu tập và chủ trì?

Trả lời: Hội nghị hiệp thương là hội nghị giữa Uỷ ban MTTQ Việt Nam với các tổ chức thành viên được tiến hành ở Trung ương và địa phương để thoả thuận cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu làm đại biểu Quốc hội, cũng như việc lập danh sách sơ bộ và danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội.

Hội nghị hiệp thương ở Trung ương do Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam triệu tập và chủ trì;

Hội nghị hiệp thương ở địa phương do Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triệu tập và chủ trì.

Để đảm bảo dân chủ và lựa chọn được những người tiêu biểu đại diện cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, hội nghị hiệp thương sẽ được tiến hành ba lần: Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân; Hội nghị hiệp thương lần thứ hai lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội nghị hiệp thương lần thứ ba lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội.

(Còn nữa)

Cùng chuyên mục