Trong suốt quá trình phát triển, Quảng Ninh luôn nhất quán quan điểm tăng trưởng kinh tế không phải là mục tiêu duy nhất, mà phải gắn chặt với nâng cao chất lượng sống của nhân dân. An sinh xã hội vì thế được xác định là trung tâm của mọi chính sách, là nền tảng bảo đảm ổn định xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân và tạo động lực cho phát triển bền vững.
Bảo đảm an sinh xã hội không chỉ thể hiện ở các chính sách hỗ trợ thu nhập hay phúc lợi, mà còn được cụ thể hóa bằng việc chăm lo chỗ ở an toàn, ổn định cho người dân. Từ phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân đến quyết liệt xóa nhà tạm, nhà dột nát, Quảng Ninh đang từng bước xây dựng “điểm tựa” vững chắc để người dân an cư, yên tâm lao động và vươn lên trong cuộc sống.
Trong tổng thể chính sách an sinh xã hội, phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho công nhân luôn được Quảng Ninh xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, gắn với quá trình đô thị hóa nhanh và thu hút lao động lớn tại các khu công nghiệp, khu kinh tế và ngành Than.
Năm 2025, tỉnh đã hoàn thành 2.458 căn nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, đạt 112% chỉ tiêu do Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả này không chỉ thể hiện sự quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, mà còn phản ánh cách làm bài bản, đồng bộ của tỉnh trong tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, thủ tục đầu tư và huy động nguồn lực xã hội.
Những căn nhà ở xã hội được hoàn thành đã góp phần giải quyết thiết thực nhu cầu nhà ở cho người thu nhập thấp, công nhân, người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống, giảm áp lực chi phí sinh hoạt, yên tâm gắn bó lâu dài với doanh nghiệp và địa phương. Đối với công nhân ngành Than lực lượng lao động đặc thù của tỉnh nhà ở ổn định còn là yếu tố quan trọng để bảo đảm sản xuất bền vững và giữ chân lao động.
Song song với phát triển nhà ở xã hội, năm 2025, Quảng Ninh đã khẩn trương, quyết liệt triển khai mục tiêu xóa 100% nhà tạm, nhà dột nát theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, phấn đấu hoàn thành trước ngày 31/8/2025. Với cách làm bài bản, đồng bộ, sự chung sức của cả hệ thống chính trị và nhân dân, đến nay, tỉnh đã hoàn thành xây dựng, sửa chữa và bàn giao sử dụng nhà ở cho 104/104 hộ, đạt 100% tổng số hộ thực tế có nhu cầu và đủ điều kiện hỗ trợ.
Bám sát Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 19/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phong trào thi đua “Chung tay xoá nhà tạm, nhà dột nát”, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành hàng loạt văn bản chỉ đạo, kế hoạch, đề án để triển khai quyết liệt. Tỉnh đã ban hành mẫu thiết kế nhà ở điển hình áp dụng cho người có công, thân nhân liệt sĩ, hộ nghèo, cận nghèo để bảo đảm tính kiên cố, phù hợp địa hình, khí hậu và rút ngắn thời gian thi công. Sở Xây dựng đã công bố bộ thiết kế mẫu vào tháng 12/2024, tạo chuẩn thống nhất cho các địa phương khi tổ chức thực hiện.
Theo thống kê, toàn tỉnh có 104 hộ nghèo, cận nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2025) thuộc diện được hỗ trợ nhà ở trong năm 2025, gồm 87 hộ xây mới (mỗi hộ được hỗ trợ 80 triệu đồng) và 17 hộ sửa chữa (mỗi hộ được hỗ trợ 40 triệu đồng), với tổng kinh phí gần 22,7 tỷ đồng. Cùng với nguồn lực từ ngân sách tỉnh, Quảng Ninh đã huy động được trên 2,5 tỷ đồng từ xã hội hóa và gần 15 tỷ đồng vốn đối ứng của nhân dân, thể hiện sự đồng lòng, chung sức vì mục tiêu an sinh xã hội.
Bà Nguyễn Chi Mai, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Sở NN&MT), cho biết: Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với Sở Xây dựng, các sở ngành và địa phương để rà soát, đảm bảo hỗ trợ đúng đối tượng, tránh chồng chéo, đồng thời kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai. Đến nay, các hộ trong diện hỗ trợ đã có nhà ở mới hoặc được sửa chữa, hoàn thành đúng hạn kế hoạch đề ra.
Niềm vui hiện rõ trên gương mặt những hộ dân được sống trong căn nhà mới khang trang, vững chãi. Sau nhiều năm sống trong căn nhà cấp 4 xuống cấp, gia đình anh Lê Việt Hưng và chị Hoàng Thị Vương (phố Đông Tiến 1, xã Tiên Yên) đã có mái ấm rộng hơn 80m², nhờ nguồn hỗ trợ 80 triệu đồng từ chương trình “Chung tay xoá nhà tạm, nhà dột nát”. Chị Vương xúc động chia sẻ: “Trước kia mỗi khi mùa mưa bão đến, gia đình tôi rất lo lắng vì căn nhà xuống cấp, dột nát, không đảm bảo an toàn. Nay nhờ được sự hỗ trợ của Nhà nước mà chúng tôi đã có thêm nguồn lực để xây ngôi nhà mới chắc chắn, ổn định hơn trước rất nhiều, chúng tôi thực sự hạnh phúc.
Tại xã Đầm Hà, ông Bùi Văn Nhân cũng không giấu nổi niềm vui: “Cảm ơn Đảng và Nhà nước đã hỗ trợ, giúp chúng tôi có căn nhà tử tế, không còn nỗi lo gió bão, mưa dột. Chuyển sang nhà mới, tôi thấy cuộc sống yên tâm hơn hẳn.”
Với sự quyết tâm, đồng thuận và cách làm khoa học, Quảng Ninh đã về đích, thực hiện thắng lợi phong trào thi đua “Chung tay xoá nhà tạm, nhà dột nát” mà Chính phủ phát động. Những mái nhà mới khang trang đã thắp lên niềm tin, động lực để người dân yên tâm phát triển kinh tế, vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Cùng với việc hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát, Quảng Ninh cũng đã cán đích mục tiêu phấn đấu đến hết năm 2025 không còn hộ nghèo và hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều áp dụng trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn 2021- 2025, Quảng Ninh được xem là địa phương tiên phong trong công tác giảm nghèo bền vững khi mạnh dạn nâng chuẩn nghèo đa chiều lên cao hơn chuẩn Trung ương khoảng 1,4 lần và đặt ra tiêu chí đo lường thiếu hụt dịch vụ xã hội khắt khe hơn. Theo Nghị quyết số 13/2023/NQ-HĐND ngày 30/3/2023 của HĐND tỉnh, giai đoạn 2023 - 2025, chuẩn hộ nghèo của tỉnh được xác định ở mức 2,6 triệu đồng/người/tháng ở khu vực đô thị và 2,1 triệu đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn; đồng thời hộ phải thiếu hụt ít nhất 3 dịch vụ xã hội cơ bản mới được xác định là nghèo. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao thước đo nghèo mà còn tạo động lực chính sách tích cực, hướng nguồn lực tập trung nhiều hơn cho các lĩnh vực thiết yếu như sinh kế, đào tạo nghề, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin, thay vì chỉ dừng ở việc hỗ trợ thu nhập tối thiểu.
Điểm nổi bật trong cách làm của Quảng Ninh là không coi giảm nghèo như một chương trình riêng lẻ, mà gắn kết chặt chẽ giữa Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình xây dựng nông thôn mới và Chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Sự lồng ghép này cho phép tận dụng hạ tầng nông thôn mới, khai thác chính sách dân tộc nhằm khắc phục những thiếu hụt dịch vụ cơ bản ở vùng sâu, vùng xa; còn chương trình giảm nghèo đóng vai trò “xương sống” kết nối, giám sát và bảo đảm tính bền vững trong quá trình thoát nghèo.
Song hành với cách tiếp cận đó, Quảng Ninh luôn duy trì mức chi an sinh xã hội ở ngưỡng cao và liên tục tăng qua các năm: năm 2023 đạt khoảng 1.437 tỷ đồng, tăng 21,8% so với năm 2022; năm 2024 lên tới 1.897 tỷ đồng, tăng 23% so với năm trước; và chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025 đã đạt 1.270 tỷ đồng. Những con số này khẳng định sự ưu tiên bền bỉ của tỉnh đối với an sinh xã hội, coi giảm nghèo đa chiều là trụ cột quan trọng trong phát triển toàn diện, bao trùm và bền vững.
Với các chính sách hỗ trợ hiệu quả của tỉnh, nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo bền vững, vươn lên thành hộ khá, có thu nhập ổn định. Gia đình anh Trần Văn Hoan, xã Điền Xá, từ hộ nghèo, nay đã trở thành chủ trang trại gà với quy mô chăn nuôi gần 10.000 con mỗi năm nhờ vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách và hỗ trợ kỹ thuật của địa phương. Ông Lục Văn Cẩu ở xã Đầm Hà được vay 100 triệu đồng, đầu tư chăn nuôi trâu và gia cầm, thoát nghèo bền vững. Đặc biệt, ông Nịnh A Dẩu, người Dao ở xã Hải Sơn, từ vài trăm cây trà hoa vàng trồng thử nghiệm năm 2022, đến nay ông đã sở hữu hơn 3.000 cây trên diện tích hơn 1ha. Sản phẩm trà hoa vàng Thanh Lợi của gia đình ông đã được chứng nhận OCOP 4 sao cho thu nhập mỗi năm hơn 1,4 tỷ đồng, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Ông Dẩu cho biết: Nguồn vốn chính sách có ý nghĩa rất lớn với gia đình tôi. Sự quan tâm kịp thời của Nhà nước giúp gia đình tôi có thêm động lực để phát triển mô hình kinh tế, cải thiện thu nhập nhờ đó thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
Để hiện thực hóa mục tiêu không còn hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn tỉnh vào cuối năm 2025, Quảng Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tài chính vẫn được coi là “đòn bẩy” quan trọng, tỉnh bố trí ngân sách an sinh linh hoạt, gắn với thực tế từng quý và tiếp tục ủy thác vốn qua Ngân hàng Chính sách xã hội cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo có phương án sản xuất khả thi. Nguồn tăng thu từ GRDP được ưu tiên bổ sung cho các chương trình bảo hiểm y tế toàn dân, cải thiện hạ tầng nước sạch và nhà ở an toàn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Một giải pháp trọng tâm khác là đào tạo nghề gắn với chuỗi giá trị và nhu cầu doanh nghiệp. Mỗi năm, tỉnh duy trì đào tạo khoảng 40 nghìn lao động, trong đó 50-60% là các khóa ngắn hạn dưới 3 tháng, tập trung vào du lịch, dịch vụ, logistics, nông nghiệp hàng hóa. Tỉnh cũng đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp để cam kết tuyển dụng sau đào tạo, đồng thời hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo tham gia các chuỗi giá trị OCOP như miến dong Bình Liêu, dược liệu Ba Chẽ, hải sản Vân Đồn hay mô hình du lịch cộng đồng, kèm theo hướng dẫn kỹ năng thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Trong những năm qua, việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn mỗi dịp Tết Nguyên đán luôn được Quảng Ninh quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, điểm mới đáng chú ý là tỉnh đã ban hành Nghị quyết 83/2025/NQ-HĐND ngày 14/11/2025 quy định việc tặng quà cho các đối tượng nhân dịp Tết Nguyên đán hằng năm và kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh 02/9, với phạm vi và đối tượng thụ hưởng được mở rộng hơn trước.
Lần đầu tiên, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo và người từ đủ 70 tuổi trở lên trên địa bàn toàn tỉnh được ngân sách tỉnh hỗ trợ quà Tết. Đây không chỉ là sự mở rộng về mặt đối tượng, mà còn thể hiện bước tiến mới trong tư duy chính sách an sinh xã hội của Quảng Ninh: chăm lo không chỉ cho những người đang khó khăn, mà còn động viên, khích lệ những người vừa vượt qua ngưỡng nghèo, giúp họ vững vàng hơn trong cuộc sống.
Đối với người cao tuổi từ đủ 70 tuổi trở lên, chính sách thể hiện sự trân trọng, tri ân của tỉnh đối với những đóng góp thầm lặng của lớp người cao niên, đồng thời góp phần chăm lo đời sống tinh thần, giúp người cao tuổi cảm nhận rõ hơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương.
Không chỉ mang ý nghĩa vật chất, những phần quà Tết còn là thông điệp nhân văn, góp phần lan tỏa tinh thần sẻ chia, gắn kết cộng đồng, củng cố niềm tin của nhân dân vào các chủ trương, chính sách của tỉnh. Qua đó, an sinh xã hội không chỉ được thực hiện bằng những con số, mà bằng sự quan tâm cụ thể, gần gũi, đúng thời điểm.
Nếu chính sách quà Tết thể hiện sự quan tâm đối với các nhóm đối tượng trong đời sống xã hội, thì chính sách hỗ trợ sữa học đường lại là minh chứng rõ nét cho tầm nhìn dài hạn của Quảng Ninh trong chăm sóc, bảo vệ và phát triển thế hệ tương lai.
Tỉnh ban hành Nghị quyết số 86/2025/NQ-HĐND ngày 14/11/2025 quy định chính sách hỗ trợ sữa uống tại trường cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học đang học tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2025-2030. Theo đó, gần 200.000 học sinh tại hơn 650 cơ sở giáo dục, bao gồm trường mầm non, trường phổ thông có cấp tiểu học và các lớp mầm non tư thục độc lập, sẽ được thụ hưởng chính sách trong suốt 5 năm.
Đây là chính sách an sinh xã hội có quy mô lớn, tác động trực tiếp đến số lượng đông đảo trẻ em, nhóm đối tượng giữ vai trò then chốt đối với tương lai phát triển của tỉnh. Việc hỗ trợ sữa học đường không chỉ góp phần cải thiện dinh dưỡng học đường, mà còn hướng tới mục tiêu lâu dài là nâng cao thể lực, tầm vóc, sức khỏe và chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.
Trong bối cảnh còn tồn tại sự chênh lệch về điều kiện dinh dưỡng giữa các vùng miền, nhất là khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, chính sách sữa học đường của Quảng Ninh mang ý nghĩa bảo đảm cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em, không phân biệt điều kiện kinh tế gia đình hay địa bàn sinh sống.
Điểm chung của hai chính sách trên là đều thể hiện rõ tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm, trong đó an sinh xã hội không chỉ mang tính hỗ trợ trước mắt, mà gắn chặt với chiến lược phát triển bền vững của tỉnh. Việc hỗ trợ quà Tết cho hộ thoát nghèo, hộ thoát cận nghèo góp phần ngăn ngừa nguy cơ tái nghèo, tạo “điểm tựa” để người dân yên tâm lao động, sản xuất. Trong khi đó, chính sách sữa học đường là đầu tư cho tương lai, góp phần xây dựng thế hệ công dân khỏe mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Những chính sách an sinh mới tiếp tục khẳng định cam kết nhất quán của Quảng Ninh trong thực hiện mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đây không phải là khẩu hiệu, mà được cụ thể hóa bằng các nghị quyết, nguồn lực và lộ trình thực hiện rõ ràng, có tác động sâu rộng đến đời sống xã hội.
Trong bối cảnh tỉnh đang hướng tới phát triển nhanh và bền vững, xây dựng xã hội nhân văn, hạnh phúc, các chính sách an sinh xã hội ngày càng được thiết kế theo hướng bao trùm, dài hạn và thực chất, bảo đảm mỗi người dân đều được quan tâm, chăm lo và có cơ hội phát triển.
Trình bày: Hùng Sơn