Ẩm thực Tết Quảng Ninh là sự giao hòa tinh tế giữa biển và rừng, giữa truyền thống và đời sống đương đại. Trong từng món ăn ngày Tết, hương vị mặn mòi của biển cả hòa quyện với nét mộc mạc của núi rừng, gợi mở những câu chuyện văn hóa, nếp sinh hoạt được gìn giữ qua nhiều thế hệ, gửi gắm ước vọng về một năm mới đủ đầy, ấm áp và sum vầy.
Giữa mâm cỗ ngày Tết truyền thống của người miền Bắc với bánh chưng xanh, giò chả, thịt đông…, nem hải sản Quảng Ninh như một điểm nhấn tinh tế, mang theo hương vị mặn mòi của biển cả nhưng vẫn hòa quyện tròn đầy trong không khí Tết cổ truyền. Không cầu kỳ trong tên gọi, song món nem này lại chứa đựng cả sự sáng tạo và tinh thần phóng khoáng của ẩm thực vùng biển Đông Bắc, nơi con người luôn biết cách gửi gắm sản vật quê hương vào từng món ăn ngày xuân.
Nem hải sản Quảng Ninh được tạo nên từ sự kết hợp khéo léo giữa thịt lợn và các loại hải sản tươi ngon như tôm, ghẹ, bề bề, những sản vật quen thuộc gắn bó với đời sống người dân ven biển. Nếu như nem rán truyền thống mang đậm vị béo của thịt, thì nem hải sản lại thiên về vị ngọt tự nhiên, thanh nhẹ, phản ánh rõ nét tính cách cởi mở, hào sảng của người vùng biển.
Cứ mỗi độ giáp Tết, nhiều gia đình Quảng Ninh lại tất bật chuẩn bị nguyên liệu để gói nem hải sản. Với các chị em nội trợ ở Quảng Yên, Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn…, nem hải sản gần như trở thành món “quốc dân” trong mâm cỗ Tết. Nem hải sản thì nhiều nơi có, nhưng nem hải sản Quảng Ninh lại đặc biệt bởi nhân nem luôn có thịt ghẹ, bề bề, những loại hải sản đặc trưng của vùng biển nơi đây. Việc lựa chọn nguyên liệu cũng rất cầu kỳ, tôm phải là nõn tôm sắt chắc thịt, ghẹ và bề bề phải tươi sống, được hấp sơ vừa chín tới rồi bóc vỏ, giữ trọn vị ngọt và độ săn chắc.
Không chỉ là câu chuyện của món ăn, việc gói nem còn là một nét sinh hoạt văn hóa ngày Tết. Bà Nguyễn Thị Vân (phường Hạ Long) chia sẻ: Năm nào gia đình tôi cũng chuẩn bị nguyên liệu để gói nem hải sản ăn Tết. Mỗi lần gói từ 100-200 cái, vừa để gia đình thưởng thức, vừa mang biếu người thân, bạn bè. Cả nhà cùng nhau quây quần, người băm nhân, người trộn nem, người gói, người rán… bận rộn nhưng rất đầm ấm. Với nhiều gia đình, những buổi gói nem cuối năm chính là khoảnh khắc Tết bắt đầu, khi không khí sum vầy lan tỏa từ gian bếp nhỏ.
Món nem hải sản khi hoàn thiện có lớp vỏ vàng ruộm, giòn tan, phần nhân bên trong mềm, thơm, đậm đà nhưng không ngấy. Đó là do nhân nem được trộn đều tay, cân đối giữa thịt và hải sản, thêm mộc nhĩ, miến, hành khô, hạt tiêu, các loại rau củ như cà rốt, hành tây… để tạo độ hài hòa giữa các nguyên liệu. Khi cắn một miếng nem, người ăn dễ dàng cảm nhận vị ngọt tự nhiên của hải sản quyện cùng nét dân dã quen thuộc của món nem truyền thống. Hương vị ấy vừa quen, vừa lạ, gợi cảm giác gần gũi mà vẫn tươi mới.
Trong những ngày Tết, khi các món ăn truyền thống dễ tạo cảm giác ngấy, nem hải sản trở thành lựa chọn “đổi vị” được nhiều gia đình ở Vùng mỏ ưa chuộng. Thưởng thức nem cùng rau sống và nước chấm chua ngọt giúp cân bằng vị giác, mang lại cảm giác nhẹ nhàng, dễ ăn. Không chỉ hiện diện trong mâm cỗ gia đình, nem hải sản đã trở thành món quà Tết mang hương vị biển, được nhiều người lựa chọn để biếu tặng người thân, bạn bè như một cách gửi gắm tình cảm và hương vị quê hương.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của du lịch và dịch vụ, nem hải sản Quảng Ninh còn được giới thiệu rộng rãi tới du khách gần xa thông qua các nhà hàng, thương hiệu ẩm thực uy tín, cũng như các kênh bán hàng trực tuyến. Tuy vậy, với người dân vùng biển, nem hải sản ngon nhất vẫn là chiếc nem được gói trong gian bếp ngày cuối năm, nơi có tiếng cười và không khí rộn ràng náo nức của ngày Tết đoàn viên.
Từ những nguyên liệu quen thuộc của vùng biển, nem hải sản Quảng Ninh vừa là món ăn ngon ngày Tết, cũng là sự kết tinh của văn hóa biển, nếp sinh hoạt gia đình và tinh thần sum vầy. Trong từng chiếc nem vàng ruộm là vị biển mặn mòi, là hơi ấm của gian bếp cuối năm, để mỗi độ xuân về, mâm cỗ Tết thêm tròn đầy hương vị và tình thân.
Nếu mâm cỗ Tết vùng biển Quảng Ninh mang đậm hương vị của biển cả thì ở các địa phương vùng cao, miến dong lại là món ăn quen thuộc, giản dị nhưng không thể thiếu trong những ngày đầu năm mới. Miến dong là món ăn vốn không xa lạ, song mỗi vùng miền lại mang một sắc thái riêng, và miến dong Bình Liêu chính là nét chấm phá độc đáo của ẩm thực vùng cao Quảng Ninh.
Ở nhiều địa phương trên khắp cả nước, miến dong thường có màu vàng óng, mỗi độ cuối năm, bà con phơi miến trên những phên tre ngoài ngõ, hong nắng trên các bãi cỏ rộng, cả làng như khoác lên mình tấm áo rực rỡ. Nhưng miến dong Bình Liêu lại khác, sợi miến nơi đây có màu trầm hơn, ánh xanh lục tự nhiên, tạo cảm giác mộc mạc, thuần khiết. Chính sắc miến đặc biệt ấy đã làm nên dấu ấn riêng, để chỉ cần nhìn qua, người sành ăn cũng dễ dàng nhận ra miến Bình Liêu giữa vô vàn sản phẩm khác.
Miến dong Bình Liêu được làm hoàn toàn từ củ dong riềng trồng trên đất đồi. Bởi vậy, đến các xã vùng cao như Bình Liêu, Lục Hồn những ngày cuối năm, dễ dàng bắt gặp bạt ngàn những thửa ruộng dong riềng trải dài theo sườn núi. Vào mùa hoa, cây dong trổ sắc vàng cam óng ả, tạo nên khung cảnh vừa bình yên vừa rực rỡ giữa núi rừng Đông Bắc. Từ cây dong riềng ấy, qua bàn tay cần mẫn của người dân, tinh bột được chắt lọc kỹ lưỡng để tạo nên những sợi miến trong, dai và thuần khiết.
Trước đây, người Bình Liêu chủ yếu tráng miến thủ công, sản xuất theo quy mô hộ gia đình, gắn với nhịp sinh hoạt nông thôn truyền thống. Ngày nay, khi hương vị miến dong Bình Liêu ngày càng được biết đến rộng rãi, nhiều cơ sở sản xuất quy mô lớn đã ra đời, ứng dụng máy móc nhưng vẫn giữ nguyên quy trình chọn nguyên liệu và tinh bột dong riềng nguyên chất. Nghề làm miến dong vì thế không chỉ gìn giữ bản sắc ẩm thực vùng cao, mà còn trở thành sinh kế bền vững, mang lại sự no ấm, đủ đầy cho người dân Bình Liêu trước đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp truyền thống.
Điều làm nên nét khác biệt của miến dong Bình Liêu ngoài màu sắc còn ở chất miến giòn dai đặc trưng. Dù nấu lâu, sợi miến chỉ mềm hơn chút ít chứ không nát, không bở. Nhờ vậy, miến Bình Liêu có thể chế biến linh hoạt trong nhiều món ăn ngày Tết như miến nấu gà, miến xào thập cẩm, miến trộn, hay đặc biệt là miến xào, miến om hải sản với ngao, tôm, cua kết hợp cùng các loại rau, củ. Bà Vũ Thị Lan, phường Cẩm Phả, cho biết: Những ngày Tết ăn nhiều đồ đạm dễ ngấy, nên gia đình tôi thường nấu thêm bát miến, mà phải là miến dong Bình Liêu. Miến dai, nhẹ bụng, nấu với gà hay xào hải sản đều rất hợp. Có miến dong trong mâm cỗ Tết vừa ngon, vừa thấy thanh vị hơn. Đó cũng là lý do nhiều gia đình Quảng Ninh coi miến dong như món “dự trữ” không thể thiếu trong ngày Tết, vừa tiện chế biến, vừa dễ ăn, lại mang ý nghĩa đủ đầy, bền bỉ đúng với mong ước cho một năm mới an lành.
Cùng với sự phát triển của du lịch cộng đồng và xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP, miến dong Bình Liêu đã trở thành đặc sản được nhiều du khách tìm mua làm quà Tết. Mỗi bó miến gói ghém hương vị núi rừng và cũng chứa đựng câu chuyện về sự cần cù, bền bỉ của người dân vùng cao biên giới.
Là vùng đất hội tụ nhiều dân tộc cùng chung sống, Quảng Ninh sở hữu một không gian ẩm thực ngày Tết phong phú, đa dạng, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa của từng cộng đồng cư dân. Nếu vùng biển có nem hải sản, vùng cao miền đông có miến dong, gà Tiên Yên, thì ở các địa phương miền tây của tỉnh, mâm cỗ ngày xuân của đồng bào Tày, Dao, Sán Chỉ, Sán Dìu gắn liền với những món ăn truyền thống mang đậm hơi thở núi rừng và nếp sinh hoạt lâu đời như bánh chưng gù, bánh tẻ, bánh tài lồng ệp, ốc khe, cá suối… Mỗi món ăn không đơn thuần để thưởng thức, mà còn là sự tiếp nối của phong tục, tín ngưỡng và ký ức văn hóa được truyền từ đời này sang đời khác.
Đã thành thông lệ hàng năm, không khí chuẩn bị đón Tết của người Dao ở vùng di sản Yên Tử thường bắt đầu rất sớm. Tại gia đình ông Trương Văn Dương, người Dao Thanh Y ở khu Khe Sú 2, phường Yên Tử, Tết năm nay càng thêm ý nghĩa khi hòa chung niềm vui Khu di tích và danh thắng Yên Tử được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Từ khoảng ngày 20 tháng Chạp trở đi, con cháu trong các gia đình người Dao Thanh Y đã tụ họp đông đủ để cùng nhau chuẩn bị Tết, gói bánh chưng gù, cắt giấy đỏ trang hoàng nhà cửa, dọn dẹp gian thờ tổ tiên.
Trong không gian căn nhà truyền thống của người Dao Thanh Y, mỗi người một việc, từ trẻ nhỏ đến người lớn tuổi. Người rửa lá dong, lá cẩm, người vo gạo nếp nương, đãi đỗ xanh, người thái thịt, ướp gia vị… Tất cả tạo nên bức tranh sinh hoạt Tết rộn ràng, tất bật mà vẫn ấm áp, nơi giá trị sum vầy và sự gắn kết gia đình luôn được giữ gìn và trao truyền qua nhiều thế hệ. Ông Trương Văn Dương cho biết: Với người Dao Thanh Y, việc cùng nhau gói bánh không chỉ là chuẩn bị món ăn, mà còn là dịp để con cháu học lại phong tục, nghe người già kể chuyện xưa, để Tết bắt đầu từ chính gian bếp thân quen.
Bánh chưng gù, món bánh không thể thiếu trong mâm cỗ Tết của người Dao Thanh Y được làm từ những nguyên liệu giản dị nhưng chọn lựa rất kỹ: gạo nếp nương trắng ngần, đỗ xanh, thịt lợn ba chỉ, đặc biệt là lá cẩm dùng để tạo màu đỏ đẹp cho phần nhân bánh. Phụ nữ Dao Thanh Y nổi tiếng khéo léo, tỉ mỉ trong từng công đoạn làm bánh, từ chọn nguyên liệu đến gói và luộc bánh. Từng hạt gạo, hạt đỗ phải to, tròn, đều tăm tắp; lá dong phải xanh, mềm và không rách để khi luộc bánh giữ được hương vị và hình dáng.
Điểm đặc biệt làm nên tên gọi “bánh chưng gù” chính là phần “lưng gù” nhô cao ở giữa bánh. Khi gói, người làm bánh phải khéo léo gấp mép hai lá dong tạo thành đường cong mềm mại. Đường cong càng nổi, càng cân đối thì chiếc bánh càng đẹp. Bánh sau khi buộc lạt được luộc liên tục khoảng 8 tiếng, đủ để gạo, đỗ nhừ dẻo, quánh mịn, hòa quyện với vị béo của thịt, nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng đặc trưng của “lưng gù”.
Không chỉ là món ăn ngày Tết, bánh chưng gù còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Bánh được dâng lên tổ tiên, thờ cúng trời đất trong những ngày đầu năm mới, thể hiện lòng biết ơn đối với nguồn cội, cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình bình an, đoàn kết. Trong mâm cỗ Tết của người Dao Thanh Y, chiếc bánh chưng gù vì thế không đơn thuần là ẩm thực, mà là biểu tượng của sự no đủ, bền bỉ và niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp.
Giữa nhịp sống hiện đại, những phong tục gói bánh, làm cỗ Tết của đồng bào các dân tộc Quảng Ninh vẫn được gìn giữ như một cách neo giữ bản sắc. Chính từ những món ăn mộc mạc như bánh chưng gù, xôi ngũ sắc hay tỉ mỉ như nem hải sản, ẩm thực Tết Quảng Ninh hiện lên không chỉ đa dạng về hương vị, mà còn giàu chiều sâu văn hóa, bởi mỗi món ăn là một câu chuyện, mỗi gian bếp là một miền ký ức, góp phần làm nên cái Tết trọn vẹn từ biển lên rừng.
Thực hiện: Ngọc Ánh
Trình bày: Vũ Đức