“Cần có cơ chế đặc thù để di, dãn dân, hình thành các vùng kinh tế mới”

Nhiều năm nay, thực hiện chủ trương di, dãn dân, xây dựng các vùng kinh tế mới (KTM), tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp, nên đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục. Phóng viên Báo Quảng Ninh đã có cuộc trò chuyện với đồng chí Phan Văn Cần, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn (PTNT) tỉnh về những vấn đề liên quan.

- Đông đảo bạn đọc rất muốn được biết công tác di dân thời gian qua đã đạt được những kết quả nổi bật gì, thưa đồng chí?

+ Thực hiện các quyết định của Chính phủ về di, dãn dân xây dựng vùng KTM, tỉnh đã có những chủ trương, biện pháp chỉ đạo phù hợp. Đó là, ở những địa bàn còn nhiều đất hoang hoá thì triển khai xây dựng các dự án KTM, Dự án 773, đưa dân đến khai thác tiềm năng sẵn có về điều kiện tự nhiên và xã hội, kết hợp phát triển kinh tế gắn với phân bổ lao động dân cư và củng cố QP-AN. Chỉ tính từ năm 2006 đến nay, tỉnh đã huy động, lồng ghép các nguồn vốn như: Vốn Chương trình bố trí sắp xếp dân cư, Chương trình 120, 135, vốn kinh tế - quốc phòng… để đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ bố trí và ổn định dân cư nên đã xây dựng được trên 12,5km đường giao thông, 6 cầu cống các loại, 4 hồ đập thuỷ lợi, 16,64km kênh mương và đê bao, 6 công trình nước sinh hoạt, 1.342m2 phòng học, san gạt trên 70.000m2 mặt bằng khu dân cư... Giai đoạn này, tổng số hộ dân cư được bố trí, sắp xếp ổn định là 3.016 hộ; trong đó bố trí, sắp xếp 1.004 hộ, ổn định dân cư tại chỗ 2.012 hộ. Các hộ di dân đã khai hoang, mở rộng diện tích đưa thêm vào phục vụ sản xuất trên 600ha, trong đó sản xuất nông nghiệp trên 230ha, nuôi trồng thuỷ sản 380ha.

Có thể khẳng định rằng, đến nay, qua quá trình thực hiện công tác di, dãn dân hình thành các khu KTM, bộ mặt KT-XH ở các vùng dân đến định cư, đặc biệt là ở tuyến biên giới đã có sự chuyển biến mới, tích cực, toàn diện, mang lại hiệu quả và ý nghĩa chính trị sâu rộng. Hệ thống chính trị ở cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn; tỷ lệ hộ nghèo, xã nghèo trên địa bàn tỉnh giảm nhanh, nhân dân phấn khởi lao động sản xuất, yên tâm bám trụ nơi định cư mới.

- Vậy tồn tại, bất cập trong công tác di, dãn dân xây dựng vùng KTM trên địa bàn tỉnh là gì, thưa đồng chí?

+ Một vài nơi coi việc tiếp nhận dân cư, đặc biệt là dân từ tỉnh ngoài, huyện ngoài đến là gánh nặng, tăng đói nghèo cho địa phương. Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào đi xây dựng vùng KTM chưa sâu rộng và tính thuyết phục chưa cao, cá biệt có nơi còn tuyên truyền, phổ biến chưa đúng sự thật nơi đến định cư mới, gây tâm lý hụt hẫng cho người dân khi chuyển đến. Việc tuyển chọn đối tượng đủ tiêu chuẩn đi xây dựng vùng KTM những năm gần đây tuy đã được các địa phương làm tương đối kỹ, song vẫn còn để lọt một số đối tượng lợi dụng đến nơi ở mới để lấy trợ cấp di dân rồi bỏ về quê cũ. Vấn đề vốn đầu tư và huy động vốn được coi là yếu tố then chốt, song thực tế có thời điểm, chính sách cho di dân đến các vùng dự án khai hoang, phục hoá phát triển sản xuất vẫn còn mang nặng tính bao cấp, chưa thực sự phát huy nội lực trong dân.

Đặc biệt, vốn đầu tư cho công tác di, dãn dân những năm qua mới chỉ đáp ứng 30% so với nhu cầu thực tế, hơn nữa đầu tư lại dàn trải kéo dài, thiếu đồng bộ, nhất là trong đầu tư xây dựng hạ tầng ở các dự án KTM. Có nhiều dự án đang triển khai đưa dân đến nhưng lại chưa được bố trí vốn đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi phục vụ sản xuất và dân sinh để sớm ổn định dân cư. Các dự án có quy mô lớn về khai hoang, phục hoá cần nhiều vốn đầu tư để tiếp nhận dân cư đến lập nghiệp, nhưng nguồn vốn bố trí hàng năm không đáp ứng đủ theo quy mô và yêu cầu tiến độ của dự án phê duyệt. Các dự án nhỏ có thể tạo ra hiệu quả nhanh, đầu tư ít tốn kém, vừa giải quyết việc làm tại chỗ, vừa di dân trên địa bàn nhưng không có nguồn vốn đầu tư vững chắc, chủ yếu trông chờ vào sự hỗ trợ của Trung ương. Một số dự án KTM ở địa bàn miền núi, hải đảo tuy còn nhiều tiềm năng đất đai song vì kết cấu hạ tầng còn khó khăn nên chưa tạo sức hút dân đến định cư, lập nghiệp. Chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình đi xây dựng KTM dù đã được Nhà nước nhiều lần thay đổi, song mức đầu tư vẫn còn thấp và mang tính bình quân, chưa giải quyết được những khó khăn cơ bản về nhà ở, nước sinh hoạt và vốn sản xuất của người dân KTM. Nguồn vốn vay cho dân KTM, nhất là đối với dân ra đảo đánh bắt hải sản đã được quan tâm giải quyết, song thủ tục còn rườm rà, thời hạn vay ngắn nên khó thực hiện...

- Với vai trò là cơ quan tham mưu về công tác di, dãn dân xây dựng các vùng KTM, đề nghị đồng chí cho biết Chi cục PTNT đã và đang có giải pháp gì để phát huy lợi thế, khắc phục tồn tại, hạn chế?

+ Theo kế hoạch thì trong giai đoạn từ năm 2012-2020, toàn tỉnh sẽ bố trí, sắp xếp, ổn định lại dân cư là 1.202 hộ với 5.293 khẩu thuộc các vùng thiên tai, vùng đặc biệt khó khăn về đời sống, vùng biên giới, hải đảo, vùng xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ; ổn định tại chỗ 899 hộ với 3.767 khẩu. Chính vì vậy, nhận thức được rằng, muốn ổn định dân cư vùng KTM thì cần phải có cơ chế đặc thù. Chi cục PTNT tỉnh đã và đang phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan tham mưu cho tỉnh triển khai đồng bộ các giải pháp. Đó là: Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch bố trí, sắp xếp dân cư các vùng thiên tai, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2012-2020 theo QĐ 570 ngày 17-5-2012 và QĐ 1776 ngày 21-12-2012 của Thủ tướng Chính phủ. Quy hoạch được duyệt sẽ là cơ sở thực hiện việc đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng sản xuất, xã hội và bố trí, sắp xếp dân cư ổn định, bền vững. Chúng tôi cũng đã dự thảo quy định chi tiết mức hỗ trợ trực tiếp cho các hộ di dân theo chính sách quy định tại QĐ 570 và QĐ 1776 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có phần ngân sách tỉnh hỗ trợ thêm cho di dân vùng sạt lở và di dân trở lại vùng biên giới. Khi tỉnh phê duyệt, Chi cục sẽ hướng dẫn để các địa phương tuyên truyền, phổ biến cho dân. Đây chính là động lực đẩy nhanh tiến độ thực hiện mục tiêu đưa dân đến lập nghiệp tại các vùng KTM.

Chúng tôi cũng sẽ phối hợp tham mưu cho tỉnh xây dựng cơ chế chính sách đầu tư hạ tầng để đưa và ổn định dân cư ra vùng biên giới sinh sống, xây dựng chính sách đặc thù để thu hút và đưa dân ra định cư tại đảo Trần. Cùng với đó, tranh thủ huy động và lồng ghép các nguồn vốn phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, nông thôn mới... để hỗ trợ cho bà con thuộc diện di, dãn dân có điều kiện tốt hơn về vốn, giống, kỹ thuật để đầu mở rộng sản xuất, giảm nghèo, vươn lên làm giàu...

Chắc chắn rằng, với những giải pháp này, thời gian tới, đời sống KT-XH tại các vùng KTM sẽ có nhiều khởi sắc, góp phần xây dựng tỉnh mạnh về kinh tế, vững về QP-AN.

- Xin cảm ơn đồng chí!

Quang Minh (Thực hiện)

Cùng chuyên mục