Bài 3: Gỡ điểm nghẽn, mở “đường băng” mới

Bài 3: Gỡ điểm nghẽn, mở “đường băng” mới

Bài 3

Gỡ điểm nghẽn,
mở “đường băng” mới

Trong hơn 1 năm qua, việc thực hiện 7 nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị (57, 59, 66, 68, 70, 71, 72) được các địa phương xác định đó không chỉ là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, mà còn là thước đo năng lực đổi mới tư duy, tổ chức thực hiện và khả năng bứt phá trong hành trình hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Mặc dù mới chỉ hơn 1 năm thực hiện nhưng những kết quả đạt được phản ánh từ chỉ số tăng trường, niềm tin của nhân dân từ địa phương cho thấy một tương lai rạng rỡ về vị thế mới của đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong niềm vui chung đó, các địa phương cũng tự nhận thấy những điểm nghẽn, những mặt còn tồn tại xuất phát từ chính nội tại quá trình thực hiện từ thực tiễn. Việc nhận diện đúng và tháo gỡ hiệu quả những điểm nghẽn này chính là điều kiện tiên quyết để các địa phương thực sự “leo thang giá trị”, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và khẳng định vai trò tiên phong trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đó không chỉ là khó khăn nội tại

Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Cùng với những thay đổi nhanh, phức tạp, nhiều vấn đề chưa từng có của bối cảnh thế giới và khu vực, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là những đột phá về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, chuỗi khối, sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch... đang làm thay đổi các phương thức sản xuất, kinh doanh, quản trị và đời sống con người. Các nước lớn và các trung tâm quyền lực điều chỉnh chiến lược, chính sách, trong đó nổi lên là chính sách thuế quan; tiếp tục vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, thỏa hiệp, song cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt. An ninh phi truyền thống, nhất là thiên tai, dịch bệnh ngày càng trở thành thách thức lớn.

Trước bối cảnh đó, 7 quyết sách chiến lược 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72 của Đảng được xác định sẽ là động lực chính để thực hiện hai mục tiêu 100 năm: đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng coi đây là cuộc cách mạng mang tính chiến lược, lâu dài, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, một trong những “đột phá của đột phá”, phải được tiến hành quyết liệt, đồng bộ để đất nước ta tự chủ chiến lược, tự hào, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Quảng Ninh vươn mình
Hệ thống trục cao tốc dọc tỉnh kết nối các trung tâm kinh tế, du lịch, văn hóa của tỉnh Quảng Ninh, là động lực phát triển dịch vụ - du lịch.

Trong tổng thể chiến lược đó, Quảng Ninh có một vị trí, vai trò rất đặc biệt và nổi bật. Là cực tăng trưởng quan trọng trong tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là cửa ngõ phía Đông Bắc của Tổ quốc, là địa bàn hội tụ của các di sản thiên nhiên và văn hoá, Quảng Ninh được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò tiên phong trong hiện thực hóa các quyết sách chiến lược của Trung ương. Trong nhịp tăng tốc vận hành của đất nước, Quảng Ninh đã xây dựng được môi trường thể chế tương đối thông thoáng, hệ thống hạ tầng giao thông hiện đại, cùng mạng lưới khu công nghiệp nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. Đặc biệt, sau hơn một năm triển khai thực hiện 7 nghị quyết chiến lược, đã bước đầu tạo ra “cú huých” quan trọng, mở ra dư địa và động lực mới để Quảng Ninh bứt phá trong năm 2025 và những năm tiếp theo.

Là cực tăng trưởng quan trọng trong tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là cửa ngõ phía Đông Bắc của Tổ quốc, là địa bàn hội tụ của các di sản thiên nhiên và văn hoá, Quảng Ninh được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò tiên phong trong hiện thực hóa các quyết sách chiến lược của Trung ương.

Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, quá trình triển khai các nghị quyết chiến lược tại Quảng Ninh hiện vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức mang tính đặc thù và những hạn chế nội tại, đang dần bộc lộ cần sớm được tháo gỡ. Đó là tiềm lực khoa học công nghệ, nhất là ở cấp độ doanh nghiệp chưa tương xứng với quy mô nền kinh tế; tỷ lệ doanh nghiệp khoa học công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp còn khiêm tốn; nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ nền tảng, công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, sinh học, an ninh mạng... còn thiếu và chưa đồng đều; khoảng cách về chuyển đổi số giữa đô thị và nông thôn, giữa khu vực kinh tế biển - du lịch với các vùng miền núi, biên giới, hải đảo còn khá lớn; văn hóa đổi mới sáng tạo, văn hóa chấp nhận rủi ro để sáng tạo chưa thật sự lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Hệ thống cơ chế, chính sách về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa thực sự đồng bộ, thiếu linh hoạt, gây khó khăn cho việc triển khai các chương trình phát triển phù hợp với tốc độ đổi mới công nghệ và yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.

TS Trần Minh Tân, Phó Giám đốc Học viện chiến lược KH&CN (Bộ KH&CN)
Đào tạo nhân lực
Ban Pháp chế HĐND tỉnh giám sát nội dung Cải cách hành chính và Chuyển đổi số tại phường Hà Tu. Ảnh: Đinh Hằng.

Hơn nữa, tiến độ triển khai xây dựng chính quyền số của tỉnh còn chậm; kinh tế số hiện chỉ đạt 6,96% GRDP, còn thấp so với mục tiêu chung của cả nước 20% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. Tỷ lệ chi ngân sách cho KHCN còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của tỉnh, điều này khiến nguồn lực nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ bị hạn chế.

Khả năng tiếp cập với chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ bị hạn chế. Các cơ chế, chính sách hiện hành còn thiếu hiệu quả.

GS.TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh doanh, Đại học TP Hồ Chí Minh

Sau 5 năm triển khai Nghị quyết 313/2020/NQ-HĐND về hỗ trợ chuyển giao công nghệ, toàn tỉnh mới chỉ có một doanh nghiệp được thụ hưởng với mức hỗ trợ 150 triệu đồng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng việc tiếp cận chính sách còn khó khăn do tiêu chí khắt khe và thủ tục hành chính phức tạp. Thứ hai là nguồn nhân lực có tay nghề cao, làm việc trong các lĩnh vực tiềm năng lớn của tỉnh Quảng Ninh vẫn còn thiếu hụt nghiêm trọng. Số lượng các chuyên gia, nhà khoa học về công tác tại tỉnh chưa nhiều. Năng lực nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp còn hạn chế, khả năng tự chủ trong các khâu hoạt động chưa cao, phần lớn vẫn lựa chọn nhập khẩu công nghệ thay vì đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D).

Điểm nghẽn tâm lý
Du thuyền quốc tế cập Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.

Ở khu vực kinh tế tư nhân Quảng Ninh vẫn phải đối mặt với không ít thách thức. Đó là năng lực tài chính, công nghệ và quản trị của một số doanh nghiệp còn hạn chế. Việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi gặp nhiều khó khăn do thủ tục phức tạp và yêu cầu thế chấp cao. Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt. Ông Tạ Đức Quyết, Giám đốc Công ty TNHH MTV Du lịch Mai Quyền, nhìn từ thực tiễn, khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó một phần xuất phát từ chính bản thân doanh nghiệp và do những rào cản bên ngoài đến từ môi trường kinh doanh.

Những hạn chế nội tại chủ yếu đang cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân được ông Quyết chỉ ra là phần lớn doanh nghiệp tư nhân có vốn mỏng, lao động ít, sức cạnh tranh yếu và phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng nhưng lại khó tiếp cận vốn do thiếu tài sản đảm bảo và thông tin tài chính minh bạch. Ngoài ra, sự phát triển của kinh tế tư nhân Quảng Ninh cũng đang đặt ra những yêu cầu mới về chất lượng nguồn nhân lực. Hiện tỷ lệ người lao động ở Quảng Ninh có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 42,8% (kế hoạch năm 2025 là 52%); trong đó số người lao động có trình độ tay nghề hay chuyên môn kỹ thuật cao chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều. Khi thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, lao động có kinh nghiệm, tay nghề, kỹ năng, ngoại ngữ, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa khó cạnh tranh với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà nước.

Thách thức
Sản xuất tại Công ty TNHH CN Jinko Solar, KCN Sông Khoai.

Trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, các chuyên gia cũng chỉ ra rằng vẫn còn chênh lệch chất lượng dịch vụ giữa khu vực đô thị - vùng sâu, vùng xa, đồng bằng-miền núi. Tình trạng thiếu hụt giáo viên, nhân viên trong các cơ sở trường học; thiếu hụt nguồn nhân lực về các y tế, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực các chuyên ngành mũi nhọn và nhân lực bác sĩ cho y tế cơ sở. Cơ sở hạ tầng phúc lợi xã hội về giáo dục, y tế, nhà ở, hệ thống chăm sóc người cao tuổi chưa theo kịp với sự phát triển của kinh tế - xã hội trong khi nhu cầu dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao của người dân và du khách trong thời kỳ hội nhập ngày càng lớn, đòi hỏi phải bứt phá mạnh mẽ hơn.

Ngoài ra các vấn đề về môi trường, biến đổi khí hậu, xử lý rác thải, chất thải, an ninh phi truyền thống... là thách thức không nhỏ đối với Quảng Ninh. Những vấn đề xã hội mới phát sinh. Bảo đảm trật tự an toàn xã hội cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cần phải xử lý như quản lý xã hội thế nào trong môi trường kỹ thuật số, kinh tế số, xã hội số... Nếu không, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.

“Phép thử” cho năng lực phát triển

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025-2030 xác định một trong những khâu đột phá là đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, hạ tầng công nghệ để thúc đẩy phát triển kinh tế số, du lịch biển, kinh tế biển; đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh cơ cấu, xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính. Đây là cơ sở, “kim chỉ nam” để Quảng Ninh tiếp tục phát triển bứt phá, khẳng định vai trò cực tăng trưởng chiến lược ở phía Bắc.

Rà soát quy định
Trường Cao đẳng Việt - Hàn Quảng Ninh giới thiệu các công nghệ mới phục vụ đời sống.

Là hạt nhân trong vùng, tỉnh Quảng Ninh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP giai đoạn 2025-2030 đạt 12%. Để đạt được mục tiêu đề ra đòi hỏi tỉnh Quảng Ninh phải có sự bứt tốc, đột phá mạnh mẽ. Do đó, bên cạnh nỗ lực khai thác, tận dụng tốt những dư địa sẵn có, đẩy mạnh và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, Quảng Ninh xác định tận dụng tối đa thời cơ, phát huy cao nhất nguồn lực để mở ra không gian phát triển mới, tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong giai đoạn mới.

Đồng chí Bùi Văn Khắng, Chủ tịch UBND tỉnh

Cụ thể, với Nghị quyết 57-NQ/TW, Quảng Ninh xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “chìa khóa” để nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, là động lực tăng trưởng mới, tỉnh Quảng Ninh sẽ tập trung triển khai thực hiện chuyển đổi số, ưu tiên đầu tư, nâng cấp hạ tầng số, hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ phả triển kinh tế - xã hội, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là chính quyền địa phương cấp xã, vùng sâu, vùng xa biên giới, hải đảo. Với Nghị quyết 59-NQ/TW, tỉnh sẽ đẩy mạnh hội nhập đối ngoại kinh tế, đối ngoại nhân dân, tập trung vào địa bàn nước láng giềng, các nước khu vực Đông Bắc A để phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài để sớm lấp đầy các khu công nghiệp hiện hữu, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Đối thoại doanh nghiệp
Các tấm pin năng lượng mặt trời được lắp đặt trên mái lợp nhà xưởng sản xuất tại KCN Hải Hà. Ảnh: Mạnh Trường.

Bám sát định hướng quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan, tỉnh Quảng Ninh sẽ đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, kinh tế đô thị, xây dựng xã hội số thông qua thu hút đầu tư phát triển 5160 MW công suất điện tái tạo (bao gồm điện gió trên bờ, ngoài khơi; điện mặt trời; điện rác; điện sinh khối); phát triển thêm 15 KCN theo hướng khu công nghiệp công nghệ cao, sinh thái, hiện đại gắn với các dự án thứ cấp có hàm lượng khoa học công nghệ cao, thân thiện môi trường và quản trị hiện đại; các dự án nông nghiệp hướng ứng dụng công nghệ cao như hệ thống giám sát, kiểm thông minh ứng dụng IoT, AI trong các lĩnh vực nuôi biển, chăn nuôi, trồng trọt, chế biến thực phẩm; các dự án nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái; dự án Cảng Hòn Nét - Con Ong, Cảng Hải Hà...

Để góp phần thúc đẩy hơn nữa phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh, Quảng Ninh ưu tiên thu hút các tập đoàn công nghệ lớn, các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh Quảng Ninh trong các lĩnh vực: công nghệ số (AI, IoT, Blockchain, Big Data); công nghệ cao trong chế biến chế tạo và công nghiệp phụ trợ; năng lượng tái tạo (điện gió ngoài khơi, năng lượng mặt trời); công nghệ nuôi biển và thủy sản thông minh; du lịch thông minh; logistics và cửa khẩu thông minh...

Cải cách hành chính
Ban Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Quảng Ninh và Công ty TNHH Duga Việt Nam ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về tìm hiểu nghiên cứu, phát triển lĩnh vực công nghiệp năng lượng trên địa bàn tỉnh.

Với Nghị quyết 66-NQ/TW, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm du lịch quốc tế, trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ của Vùng kinh tế trọng điếm Bắc Bộ và cả nước, là “cầu nối chiến lược” giữa Việt Nam và khu vực Đông Bắc Á. Tỉnh sẽ đẩy mạnh triển khai các cơ chế đặc thù, tận dụng không gian phát triển mới từ vùng đồng bằng sông Hồng và hành lang kinh tế ven biển. Tỉnh cũng sẽ đổi mới mạnh mẽ công tác pháp luật, đưa các luật sửa đổi, bổ sung mới, cơ chế, chính sách mới đu vào cuộc sống, phát huy hiệu lực, hiệu quả, tạo được môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng. Đồng thời, tập trung nghiên cứu đề xuấ cơ chế, chính sách mới, đặc thu, vượt trội trên một số lĩnh vực, nhất là xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phát triển đặc khu và nghiên cứu, đề xuất chính sách phát triển khu thương mại, biên giới cửa khẩu.

Quyết tâm chính trị
UBND tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn Sungroup tổ chức Lễ khởi công Dự án Khu dịch vụ du lịch phức hợp cao cấp tại Khu kinh tế Vân Đồn sáng 19/12.

Đối với Nghị quyết 68-NQ/TW, Quảng Ninh coi đây là động lực quan trọng để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, Tỉnh tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản lớn nhất trong tiếp cận đất đai, tiếp cận nguồn vốn, cung ứng nguồn nhân lực, giải quyết thủ tục hành chính; khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tạo điều kiện thuận lợi, tốt nhất cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ.

Đối với Nghị quyết 70-NQ/TW, Quảng Ninh đảm bảo không để thiếu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động du lịch và điện phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch như điện khí, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, điện khối... Đối với Nghị quyết 71 và Nghị quyết 72, tỉnh trọng đầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo, thực hiện giáo dục và đào tạo theo phương châm “Lấy chất lượng làm trực - lấy nhà giáo làm then chốt - lấy công nghệ làm đòn bẩy”. Phát triển củng có y tế cơ sở, y tế dự phòng, chăm sóc khám bệnh cho nhân dân, chăm sóc người cao tuổi.

Quảng Ninh vươn mình

Tỉnh khẩn trương thể chế hóa, cụ thể hóa các Nghị quyết, Chương trình hành động thực hiện vào kế hoạch, chương trình công tác của các cấp uỷ, địa phương, cơ quan, đơn vị phù hợp với thực tiễn. Tổ chức thực hiện quyết liệt, rõ ràng, với phương châm “Kỷ cương đi trước - Nguồn lực đi cùng - Kết quả là thước đo”, trong đó xác định: Mọi nhiệm vụ đều phải rõ mục tiêu, rõ lộ trình, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm, rõ kiểm tra; báo cáo đúng hạn; công khai tiến độ và kết quả để nhân dân giám sát. Song song với việc hoàn thiện thể chế và cơ chế điều hành, tỉnh đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, có tư duy chiến lược, hành động quyết liệt, kỷ luật, sáng tạo. Đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt. Nhân sự phải bảo đảm phẩm chất - năng lực - uy tín - liêm chính - hiệu quả, tăng sức sáng tạo trong quản trị địa phương, Mỗi cấp ủy, người đứng đầu phải thật sự nêu gương, làm gương, là trung tâm đoàn kết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của Đảng, của nhân dân.

Đề xuất thêm các giải pháp cho tỉnh, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho rằng, đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực là những ưu tiên hàng đầu tỉnh cần tập trung. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và khuyến khích đổi mới sáng tạo cũng đóng vai trò quan trọng. Đồng thời, tỉnh cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể để giúp các doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực cạnh tranh. Điều này bao gồm việc hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ưu đãi, đầu tư vào công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị

"Đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực là những ưu tiên hàng đầu tỉnh cần tập trung."

Việc triển khai đồng bộ 7 Nghị quyết chiến lược không chỉ là nhiệm vụ của riêng một ngành, một cấp mà đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Với quyết tâm chính trị cao, tầm nhìn chiến lược rõ ràng và hành động quyết liệt, đồng bộ, Quảng Ninh cũng như nhiều địa phương hoàn toàn có thể biến thách thức thành cơ hội, tạo ra bước đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế tư nhân và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó góp phần quan trọng cùng cả nước hiện thực hóa khát vọng phát triển thịnh vượng của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Thực hiện: LAN HƯƠNG - THÙY LINH - MINH THU - THU CHUNG
Trình bày: ĐỖ QUANG

Cùng chuyên mục