Làm mới các động lực tăng trưởng

Làm mới các động lực tăng trưởng

lam-moi-cac-dong-luc-tang-truong-228.jpg

Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định rõ yêu cầu làm mới các động lực tăng trưởng, nâng cao giá trị những lợi thế truyền thống và mở rộng các không gian phát triển mới. Trên nền tảng công nghiệp, kinh tế biển, du lịch, dịch vụ và logistics, Quảng Ninh đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, đồng thời hoàn thiện hạ tầng và tổ chức lại không gian phát triển, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

tp1.jpg

Quảng Ninh đang bước vào một giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Nếu những lợi thế về tài nguyên, vị trí địa kinh tế, biển, di sản, cửa khẩu và hệ thống hạ tầng đã tạo nền tảng cho nhiều giai đoạn phát triển trước đây, thì trong chặng đường mới, những lợi thế ấy cần được chuyển hóa bằng công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng hiện đại và phương thức tổ chức không gian phát triển mới.

Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 23/NQ-HĐND ngày 16/6/2026 đã xác lập rõ hướng đi này.

1-4464.jpg
Sản xuất xe đạp xuất khẩu tại Công ty TNHH JUNSHUN Việt Nam (KCN Đông Mai). Ảnh: Mạnh Trường

Quy hoạch xác định phát triển kinh tế theo hướng nhanh và bền vững, gia tăng giá trị tổng thể, nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ sở năng suất các nhân tố tổng hợp, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng.

Với công nghiệp, thay vì dựa nhiều vào các ngành sử dụng tài nguyên và những lợi thế sẵn có, tỉnh định hướng cơ cấu lại ngành theo hướng hiện đại, ưu tiên công nghiệp nền tảng, công nghiệp mới nổi, công nghiệp chế biến, chế tạo xanh, sạch, công nghệ cao.

Đồng thời, phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng mới. Mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 18% GRDP. Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với các khu công nghiệp, khu kinh tế và hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất công nghiệp. Bởi lẽ, bên cạnh những điều kiện về quỹ đất, vị trí hay khả năng kết nối giao thông, sức hút đầu tư sẽ phụ thuộc cao hơn vào chất lượng hạ tầng, năng lượng, logistics, dữ liệu, nguồn nhân lực và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị.

1-7189-9198.jpg
Khu công nghiệp Hải Hà nhìn từ trên cao.

Cùng với việc nâng cao giá trị của ngành công nghiệp, Quảng Ninh đang mở rộng không gian phát triển ra biển. Tỉnh đã và đang đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế biển theo hướng bền vững, lấy bảo vệ môi trường và sinh thái biển làm nền tảng, quyết tâm trở thành một trung tâm kinh tế biển kiểu mẫu của vùng Duyên hải Bắc Bộ.

Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, Quảng Ninh dành hơn 45.146ha cho nuôi biển với mục tiêu đến năm 2030, nuôi biển công nghiệp phải chiếm trên 75% sản lượng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8-10%/năm. Đến nay, tỉnh đã quy hoạch hàng nghìn hecta mặt biển, hoàn thành việc cấp phép cho 60/60 tổ chức, thực hiện giao biển cho 56 tổ chức và hơn 1.000 cá nhân.

Đồng thời, quyết liệt triển khai các vùng nuôi tập trung tại 5 vùng trọng điểm tại các xã đảo, xã ven biển Vĩnh Thực, Cái Chiên, Đầm Hà và hai đặc khu Cô Tô, Vân Đồn. Đặc biệt, tháng 4/2026, UBND tỉnh đã giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản tại đặc khu Cô Tô cho Công ty CP Mực nhảy Biển Đông với diện tích 209,8ha. Đây là doanh nghiệp đầu tiên được giao mặt nước tại vùng biển Quảng Ninh, đánh dấu bước triển khai cụ thể trong phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.

Bên cạnh đó, tỉnh cũng phát triển hạ tầng cảng biển và logistics xanh. Cũng trong tháng 4/2026 vừa qua, Sở Xây dựng và Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác chiến lược khu vực cảng Con Ong-Hòn Nét và Sáng kiến hàng hải Quảng Ninh.

Đồng chí Bùi Văn Khắng, Chủ tịch UBND tỉnh, khẳng định: Quảng Ninh xác định kinh tế biển là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong đó, Cảng Con Ong - Hòn Nét giữ vai trò then chốt, là nền tảng để hình thành hệ sinh thái kinh tế biển đa ngành, hiện đại và hội nhập quốc tế. Bởi vậy, việc đầu tư phát triển cảng không chỉ nhằm nâng cao năng lực logistics mà còn tạo ra không gian phát triển mới, thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao.

2-5294.jpg
Mô hình nuôi cá chim vây vàng được đầu tư hệ thống lồng nuôi hiện đại, thân thiện môi trường tại phường Cẩm Phả.

Trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch, Quảng Ninh đang tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và gia tăng giá trị từ các lợi thế về biển, đảo, di sản, đô thị và vị trí kết nối quốc tế. Tỉnh định hướng phát triển trở thành trung tâm du lịch quốc tế, hình thành điểm đến biển - di sản - đô thị có thương hiệu, với các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao.

Quy hoạch tỉnh xác định tăng cường liên kết biển - đảo - biên giới - di sản - đô thị, đồng thời phát triển các không gian đô thị - di sản - du lịch, đô thị - kinh tế biển và các khu vực có sức lan tỏa. Trên nền tảng đó, các sản phẩm du lịch được định hướng đa dạng theo các nhóm nghỉ dưỡng, văn hóa, trải nghiệm, sự kiện, thể thao, dịch vụ đô thị và kinh tế ban đêm.

Việc kết nối các không gian này tạo điều kiện mở rộng chuỗi sản phẩm, nâng cao giá trị dịch vụ và tăng sức cạnh tranh của du lịch Quảng Ninh trên thị trường trong nước và quốc tế.

7-7675.jpg
Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long cùng hệ thống hạ tầng đồng bộ đang tạo động lực thúc đẩy kinh tế biển, du lịch chất lượng cao và phát triển đô thị hiện đại của Quảng Ninh. Ảnh: Đỗ Phương

Cùng với du lịch, logistics được xác định là một hướng phát triển quan trọng trong không gian dịch vụ của Quảng Ninh. Với vị trí cửa ngõ phía Bắc, hệ thống cảng biển, sân bay, cửa khẩu và các tuyến kết nối liên vùng, tỉnh có điều kiện để phát triển các dịch vụ logistics gắn với sản xuất, thương mại và lưu chuyển hàng hóa. Quy hoạch đặt yêu cầu phát triển hạ tầng logistics, tăng cường kết nối liên tỉnh, liên vùng và quốc tế, đồng thời phát huy lợi thế giao thông đa phương thức, trong đó có giao thông thủy nội địa.

tp-2.jpg

Để làm mới động lực tăng trưởng, Quảng Ninh cũng mở rộng không gian phát triển từ cách tổ chức phát triển theo địa giới hành chính sang phát triển theo không gian chức năng, hình thành các cực tăng trưởng, hành lang động lực và các khu vực phát triển theo mô hình đa cực, đa trung tâm, đa chức năng. Đồng thời, xác định tiếp tục hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng hiện đại, kết nối liên tỉnh, liên vùng; tập trung vào hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng số, logistics, đường sắt tốc độ cao và giao thông đa phương thức.

Đặc biệt, việc phát triển hạ tầng tại các khu vực động lực như đặc khu Vân Đồn, Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái và Khu kinh tế ven biển Quảng Yên có ý nghĩa mở rộng dư địa tăng trưởng. Khi các không gian này được đầu tư đồng bộ, chúng không chỉ tạo thêm địa điểm cho các dự án mới mà còn có thể hình thành những chuỗi liên kết mới giữa sản xuất - logistics - thương mại - dịch vụ - đô thị - du lịch.

4-8478.jpg
Sản xuất tấm quang năng tại Nhà máy Jinko solar, KCN Sông Khoai.

Nếu hạ tầng và công nghiệp tạo nên năng lực vật chất, thì khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được Quảng Ninh xác định là lực đẩy để thay đổi chất lượng tăng trưởng.

Nghị quyết 23/NQ-HĐND tỉnh xác định yêu cầu “chuyển đổi và gia tăng hàm lượng công nghệ đối với các động lực tăng trưởng truyền thống; tiên phong về khoa học và công nghệ để hình thành nhanh các động lực tăng trưởng mới”.

Quy hoạch xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng thích ứng, chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tỉnh đồng thời đặt mục tiêu phát triển kinh tế số đạt khoảng 30% GRDP vào năm 2030.

Trong đó, chuyển đổi số được gắn với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và quản trị phát triển, với yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, đô thị thông minh, kinh tế số, xã hội số; đẩy nhanh tích hợp hạ tầng trên nền tảng số, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế; phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu và mạng băng rộng di động chất lượng cao trên phạm vi toàn tỉnh.

8-842-3918-6162.jpg
Hoạt động logistics qua địa bàn KKT cửa khẩu Móng Cái.

Trên nền tảng đó, dữ liệu được xác định là một cấu phần của hạ tầng phục vụ quản lý và phát triển. Công nghệ được đưa vào vận hành đô thị, quản lý tài nguyên, giao thông, năng lượng, môi trường, cung cấp dịch vụ công và hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Định hướng này được cụ thể hóa trong phát triển đô thị thông minh, đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), gắn với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và áp dụng các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).

Cùng với hạ tầng, Quảng Ninh định hướng phát triển các nền tảng và dịch vụ số, thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh; từng bước hình thành môi trường thuận lợi để các mô hình kinh tế mới được thử nghiệm, phát triển và nhân rộng. Qua đó, chuyển đổi số được triển khai đồng thời ở khu vực công, doanh nghiệp và đời sống xã hội, tạo thêm dư địa cho tăng năng suất và hình thành các động lực tăng trưởng mới.

3-8586.jpg
Ngày 11/2/2026, tại vạch phân quản cầu Bắc Luân II, Quảng Ninh (Việt Nam) và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) chính thức khởi động xây dựng Cửa khẩu thông minh Móng Cái - Đông Hưng.

Quan trọng hơn, kinh tế số tạo thêm một không gian tăng trưởng không phụ thuộc trực tiếp vào việc mở rộng khai thác tài nguyên. Đây là một trong những nền tảng để Quảng Ninh nâng cao năng suất lao động, khi quy hoạch đặt mục tiêu tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân 12%/năm. Đồng thời, đóng góp bình quân của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2021-2030 được đặt mục tiêu trên 55%.

Quy hoạch cũng đặt ra các yêu cầu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững các nguồn tài nguyên; tăng cường kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thực hiện: Bảo Bình
Trình bày: Vũ Đức

Cùng chuyên mục