Mùa sứa ở Minh Châu

Cũng như nhiều nơi khác, mùa sứa ở xã Minh Châu (huyện Vân Đồn) kéo dài khoảng từ cuối tháng giêng đến giữa tháng 3 âm lịch. Vào mùa sứa nếu ai có việc đến Minh Châu thì phải hẹn trước, bởi người lớn đều đi làm sứa, chỉ có trẻ con và người già ở nhà.

Minh Châu lại chưa có điện lưới nên ban đêm vốn đã vắng lặng, chỉ có tiếng người vào ban ngày. Thế nhưng vào mùa sứa, cả ban ngày cũng vắng như... đêm vậy...

Mùa sứa ở Minh Châu ảnh 1
Người bắt sứa phải mặc quần áo kín mít vì sợ dớt sứa.

Trái với trong thôn xóm, ngoài bãi biển lại là cảnh tấp nập, ánh điện chạy bằng máy nổ, ắc quy v.v... sáng trưng. Từ các xưởng chế biến sứa đến các tàu vớt sứa đều chăng đèn rực rỡ. Mà không chỉ người Minh Châu, vào mùa sứa, người thập phương, từ các tỉnh lân cận như Thái Bình, Hải Phòng đến các tỉnh xa xôi như Quảng Nam - Đà Nẵng, Sơn La, Lai Châu, Thái Nguyên v.v... cũng đến Minh Châu; có người là lái buôn, có người là thợ làm công như cắt sứa, ướp sứa v.v... Năm nay Minh Châu có 20 xưởng chế biến sứa đang hoạt động, mỗi xưởng ước chừng cũng đến bốn, năm chục, thậm chí lên đến bảy chục tấn mỗi ngày. Sứa được ướp khoảng 10 ngày trong các bể ướp, sau đó đem đóng hộp, chủ yếu là xuất khẩu sang Trung Quốc, rồi từ Trung Quốc sứa ''bay'' tới các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga...

Người ta bảo, Minh Châu là xã nghèo, nhưng lại được trời phú cho những bãi sứa ''đệ nhất thiên hạ”. Sứa ở Minh Châu rất to và rất nhiều, ước tính có hàng nghìn tấn/vụ. ở các xã lân cận như Quan Lạn, Ngọc Vừng, Thắng Lợi v.v... hay ở cả Cô Tô nữa cũng có nghề làm sứa, nhưng so với Minh Châu thì chưa nhằm nhò gì! Nghề đánh bắt sứa tuy không phức tạp nhưng đòi hỏi người làm nghề phải dạn dày với sóng gió. Bởi bắt sứa thường chỉ dùng được những chiếc mảng mỏng manh, trong khi đó, sóng biển ở đây nhiều ngày rất dữ dội, người không quen sông nước rất dễ bị say sóng mà bỏ về giữa chừng; hoặc nếu có kiên trì bám trụ thì cũng không hớt được nhiều sứa. Chẳng thế mà dân xã đảo Bản Sen cũng nhiều hộ làm ngư nghiệp nhưng chỉ quen khai thác hải sản trong lộng nên họ có muốn tranh thủ mùa sứa kiếm tiền thì cũng chỉ làm các công việc trên bờ như cắt sứa, chế biến sứa v.v...

Vào mùa sứa năm nay, chúng tôi đã về Minh Châu, theo người dân ra bãi. Trong không khí tấp nập của ngày mùa, tôi làm quen với ông Phạm Văn Hăng, một hộ dân sống gần bến Cửa Đối. Năm nay ông Hăng đã 53 tuổi và như ông nói, cũng chừng ấy năm ông sống với biển. Thậm chí, từ khi còn nằm trong bụng mẹ, ông đã... đi biển rồi! Sinh ra trên biển, lớn lên trên biển, ông quả là một lão ngư với đủ những đặc trưng của người đi biển. Từ cái tính vô tư, sôi nổi và cởi mở như con sóng cho đến đôi mắt nhìn lúc nào cũng nheo nheo... Thấy tôi muốn tìm hiểu nghề đánh bắt sứa, ông khoái lắm, thao thao bất tuyệt kể cho tôi nghe về những chuyến đi biển, những lần đụng sóng to, gió lớn v.v... Những khi tôi đặt vấn đề xin được theo ''hầu ông một chuyến thì ông chối đây đẩy...

''-Chú không theo được đâu, sóng biển lớn lắm nhỡ nó hất chú xuống biển thì tôi biết làm sao?” - Ông nhìn tôi, lắc đầu.

''-Làm cái nghề này cũng cực lắm chú ơi!'' - Ông Hăng nói, rồi giơ tay chỉ vào một anh chàng cao lêu nghêu, thợ cùng làm đứng gần đó. Anh chàng này toàn thân mặc áo mưa kín mít, chân đi ủng, đeo găng tay cao su chỉ để hở mỗi đôi mắt. Ông Hăng bảo: ''-Nó không chịu được nhớt sứa nên phải ăn mặc như vậy đấy!''.

Tôi nhìn ra xung quanh và mới chợt nhận ra điều khác lạ ấy. Cả bãi biển mặc dù trời quang mây tạnh vậy mà ai cũng mặc quần áo mưa kín mít. Thì ra là để tránh đụng phải nhớt của con sứa. Nếu đụng phải dễ bị dị ứng lắm, da thịt có khi lở loét...

Sứa là động vật thân mềm, thường chỉ nổi lên vào ban đêm. Và tuy to lớn (sứa ở Minh Châu có trọng lượng trung bình từ 20-30kg, cá biệt có con sứa nặng đến 1 tạ) nhưng sứa lại không có khả năng tấn công mà chỉ tự vệ bằng cách tiết ra một loại nọc độc gây ngứa, khiến cho chẳng loài vật nào ở biển dám ăn thịt nó. Các đàn cá thường tìm cách tránh xa đàn sứa, nên dịp nào vào vụ sứa thì bà con ngư dân cũng chẳng ai đi đánh cá cả bởi rất ít khi gặp được cá. Đặc biệt, người đi bắt sứa sợ nhất là gặp sứa lửa, nếu không mang găng tay cao su, và mặc quần áo mưa cẩn thận mà vô tình sờ vào sứa lửa thì chỉ còn cách ôm tay mà khóc, rồi đánh mảng về không...

Nhưng thấy tôi ''nỉ non'' mãi, ông Hăng cuối cùng cũng đồng ý cho tôi đi đánh bắt sứa cùng, với điều kiện tôi phải phục tùng ông tuyệt đối trong suốt chuyến đi và phải mặc quần áo mưa cẩn thận. Ông cũng khuyên tôi để máy ảnh ở nhà, vì sợ tôi mải chụp ảnh rồi bị ngã xuống nước thì chết. Tôi đồng ý. Chiếc mảng rùng mạnh rồi lao vút đi giữa mênh mông biển nước...

Quả thật có ra biển và đêm tối trời mới càng thấy mình nhỏ bé giữa đại dương. Dù đã đi biển nhiều lần nhưng khi được nhìn vịnh Bái Tử Long trong đêm như thế này, tôi vẫn thấy xúc động trước khung cảnh hùng vĩ của biển cả. Vịnh Bái Tử Long về đêm giống như có 2 bầu trời, một bầu trời trên cao kia và một bầu trời ở dưới mặt nước với hàng triệu loài hải sản lớn nhỏ cũng phát sáng lung linh như ánh sao. Những đêm trời tối đen như mực này, nhìn bầu trời dưới nước còn thú vị hơn nhiều. Gặp khi con sóng lớn ập tới, chiếc mảng của chúng tôi dềnh lên dềnh xuống. Ông Hăng nhìn tôi cười khà khà: ''Thấy chưa, tôi đã bảo anh đừng đi cùng cơ mà!''.

Mùa sứa ở Minh Châu ảnh 2
Vào mùa sứa, nhiều xưởng chế biến sứa mua vào hàng vạn đầu sứa/ngày.

Quả thật, công việc đánh bắt sứa với “dân ngoại đạo'' như tôi thực sự là một thử thách. Từ lúc đi đến giờ, tôi cứ phải ôm chặt vào cột thuyền, giá có mang theo máy ảnh cũng không tay nào mà chụp được. Bỗng ông Hăng hét to: ''Bãi sứa kìa!''. Và hàng chục tàu sứa cùng lao đến khi nghe tiếng kêu của ông Hăng. Tôi đưa mắt nhìn ra xa, những thân sứa phản ánh đèn lấp lánh toả sáng. Chưa bao giờ tôi được chứng kiến một cảnh ngoạn mục như thế! Chúng tôi lạc vào giữa đàn sứa dễ đến hàng ngàn con, con nào cũng to như chiếc thúng, lập lờ như viên thạch khổng lồ trên mặt nước. Ông Hăng cởi nhanh chiếc thắt lưng rồi cột chặt bụng mình vào cột thuyền, đứng theo thế xuống tấn, hai tay cầm chắc cây sào có gắn đầu vợt, rồi hết sức gồng những thân sứa khổng lồ lên mảng. Anh chàng cao lêu nghêu làm cùng mảng với ông Hăng, khệ nệ lôi những thân sứa về một phía mảng, rồi cắt rời đầu sứa với thân sứa. Đầu sứa bé hơn; nhưng khi bán thì được giá hơn nhiều so với thân sứa. Những năm sứa được mùa, nhiều xưởng sứa chỉ thu mua đầu sứa. Một chiếc đầu sứa trung bình cũng nặng khoảng 6-7kg, năm nay giá đầu sứa thu mua ở các xưởng dao động từ 5.000-6.000 đồng/đầu sứa, có năm giá đầu sứa lên tới 14.000 đồng/đầu. Ngày nhiều sứa, các xưởng sứa thu mua trung bình từ 5.000 đến 1 vạn đầu sứa...

Mải mê vớt, chẳng mấy chốc, sứa đã đầy khoang. Ông Hăng tuyên bố: ''-Nghỉ! Được hơn 300 đầu sứa rồi! Thêm nữa, đắm mảng đó!''. Chúng tôi quay mảng trở về. Cũng phải mất hơn 2 tiếng mới tới bờ. Lúc này đã là 11 giờ đêm. Ông Hăng bảo tôi: ''-Bãi sứa này vẫn chưa lớn lắm, nhiều lần tôi gặp bãi sứa có đến vài nghìn con, phải mấy chục mảng mới chở hết!''...

Xem ra ông Hăng có vẻ rất hài lòng với chuyến đi. Ông bảo nghề khai thác và chế biến sứa ở Minh Châu thực sự rộ lên là từ năm 2005, còn trước đó chẳng ai biết chế biến sứa, thậm chí cũng chẳng mấy ai ăn sứa. Chỉ đến khi có sự tham gia của các kỹ thuật viên chế biến sứa đến từ Trung Quốc, nghề sứa mới xuất hiện. Ban đầu nó không được khuyến khích vì sợ làm ảnh hưởng đến môi trường, thậm chí có lúc còn bị cấm. Năm 2006, doanh thu từ việc làm sứa đã đem lại thu nhập cho ngư dân Minh Châu hơn 2,5 tỷ đồng/2 tháng/vụ, hơn hẳn nghề đánh cá xa bờ với 28 tàu cá cỡ lớn (chưa kể tàu cỡ nhỏ) của ngư dân Minh Châu cũng chỉ đem lại thu nhập cho họ khoảng 1,4 tỷ đồng/năm. Trong khi đầu tư vào nghề cá phải mất số tiền gấp vài chục lần so với nghề sứa. Và thế là mọi người tập trung vào khai thác, chế biến sứa. Nhất là sau đó, thực tế còn khẳng định nghề sứa không những không làm ảnh hưởng đến môi trường mà trái lại còn góp phần bảo vệ môi trường, vì sứa chỉ xuất hiện theo mùa khoảng 2 tháng, rồi tự chết đi trong môi trường tự nhiên. Chỉ riêng số lượng sứa ở khu vực biển Minh Châu hàng năm cũng có đến hàng nghìn tấn. Nếu không được thu gom, chúng chết trôi trên biển sẽ gây ô nhiễm khá nặng rồi. Do vậy từ năm 2007, sứa đã thực sự được coi là loài hải sản có giá trị, và nghề làm sứa đã được khuyến khích, trước mắt nó đã góp phần tích cực trong việc xoá nghèo cho người dân Minh Châu. Chỉ tính từ năm 2007 đến nay, thu nhập từ nghề sứa ở Minh Châu ước tính đã khoảng 8 tỷ đồng/năm. Minh Châu hiện nay có khoảng 60% diện tích ruộng cấy bị hỏng do ngập mặn, người dân mệt với nghề trồng lúa nghề đánh cá cũng ngày càng khó khăn do nguồn cá cạn kiệt... Thế là nghề sứa lên ngôi, trở thành cứu cánh cho kinh tế của Minh Châu, góp phần làm giảm lượng người đi khai thác sá sùng ở bãi biển Minh Châu và Quan Lạn... Thật là nhất cử lưỡng tiện...

Chính vì thế, ông Hăng vui cũng là chuyện dễ hiểu. Đó là niềm vui của người lao động, có thu nhập cao từ việc làm chính đáng!

Cùng chuyên mục