Nơi ấy có những cánh đồng bỏ hoang, những ngôi nhà xập xệ nằm chênh vênh bên sườn đồi. Nhiều năm liền thiếu nước canh tác, sinh hoạt, nên người dân nơi đây dùng từ “Vùng đất khát” để miêu tả làng quê mình.
Rủ nhau gánh nước lúc nửa đêm
Từ trung tâm xã Hải Lạng (huyện Tiên Yên), chúng tôi xuôi xuống những thôn ven biển của xã trên con đường bê tông rộng rãi. Trên đường đi, ban đầu là những ngôi nhà còn khá khang trang, nhưng càng đi sâu thì sự khó khăn càng hiện rõ. Đồng chí Lộc Văn Sinh, Phó Chủ tịch UBND xã Hải Lạng buồn rầu cho biết: “Những năm gần đây, dù các cấp, các ngành đã quan tâm đầu tư hạ tầng điện, đường giao thông nông thôn; xã cũng tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho bà con, vậy mà đời sống của nhiều hộ dân vẫn không khá lên được”. Nói đến đây, đồng chí Phó Chủ tịch bảo chúng tôi dừng xe để xuống cánh đồng cạnh đường. Đứng trên gò cao, anh khoát tay chỉ xuống cánh đồng và nói: “Kênh mương được đầu tư từ lâu, nhưng cũng chỉ để cho đẹp. Đồng đất thiếu nước thế này thì không thể canh tác được. Nông dân có ruộng không thể canh tác thì làm sao mà ổn định được đây?”.
Nhìn những cánh đồng rộng mênh mông nhưng chỉ thấy cỏ dại mọc um tùm, chúng tôi phần nào hiểu được nông nỗi của vùng đất này. Đang mải câu chuyện, chúng tôi chợt thấy một người đàn ông đứng tuổi bước đi xiêu vẹo, dáng vẻ của người say rượu. Mọi người đi cùng bảo đó là anh Tô Văn Lý, người dân tộc Tày ở thôn Bình Minh gần đó. Khi được hỏi sao mới 3 giờ chiều mà đã khật khưỡng như vậy, anh Lý lè nhè nói: “Ruộng thì được mấy ngày đầu năm có tý nước. Chỉ đủ mọc cỏ cho trâu bò ăn vài bữa rồi khô xác. Ngày nắng thì đi phát rừng thuê. Mấy hôm nay mưa nhiều quá không đi rừng được, nên rủ nhau đi uống rượu giải khuây chứ biết làm gì”. Nói xong anh Lý lại khật khưỡng đi về phía có mấy căn nhà lụp xụp nằm ở ven đồi.
Thôn đầu tiên chúng tôi đến là Khe Hố. Thôn này toàn là những căn nhà lụp xụp, tạm bợ nằm chênh vênh bên sườn đồi. Nhà đầu tiên chúng tôi vào là hộ anh Hà Văn Tiến. Theo giới thiệu của đồng chí Phó Chủ tịch UBND xã thì đây là một trong những hộ nghèo nhất ở Khe Hố. Đó là căn nhà lợp prôximăng, tường quây bằng tre. Ngay ở cửa ra vào, một phụ nữ đang rửa mấy củ khoai bé tí trong chiếc chậu nước đen ngòm. Thấy khách đến nhà, chị vội vã bê chậu khoai cất vào trong bếp. Anh Tiến đứng tần ngần ở cửa nhà nửa muốn mời khách vào, nửa không muốn. Chúng tôi cũng biết sự băn khoăn của anh, bởi nhìn vào trong căn nhà trống tuềnh, trống toàng thì thấy chẳng có gì giá trị ngoài chiếc ti vi cũ. Phía trong có 2 chiếc giường ọp ẹp vất đủ thứ linh tinh. Qua câu chuyện của anh Tiến thì được biết, cách đây hơn chục năm, thực hiện chương trình di, dãn dân để xây dựng hồ Khe Mai, gia đình anh cũng chuyển xuống đây định cư. Khi về đây, gia đình anh được phân 2.000m2 đất nông nghiệp để canh tác. Thế nhưng, nước phục vụ sản xuất không có, mỗi năm dù vất vả gieo cấy, nhưng đến vụ thu hoạch, vợ chồng anh cũng chỉ được vài bao thóc lép. Để mưu sinh, ngày ngày anh chị phải đi làm thuê để nuôi 4 con nhỏ, nên chẳng có tiền để sửa chữa nhà cửa.
Thấy có cán bộ xã đến, anh Hà Xuân Sinh, Trưởng thôn Khe Hố rẽ vào. Anh Sinh buồn bã cho biết: “Cách đây 4 năm, 30 hộ dân chúng tôi sinh sống ở khu vực lòng hồ Khe Cát, di chuyển tới Khe Hố này để Nhà nước xây dựng hồ chứa nước Khe Cát. Chúng tôi được hỗ trợ nhà, cấp đất sản xuất, nhưng ngặt một nỗi không có nước. Tưởng tới nơi ở mới sẽ tốt hơn, nhưng còn nghèo khó hơn hồi ở trong Khe Cát”. Anh Sinh cho biết thêm: Liền kề thôn Khe Hố là thôn Bình Minh, tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt tại đây cũng diễn ra trầm trọng. Đứng trên cánh đồng khô nẻ, cỏ mọc rậm rì, anh Sinh rầu rĩ: “Đến đây được ít lâu, chúng tôi mới thấm thía nỗi khổ. Đất sản xuất vừa ít, lại cằn cỗi, trong khi đó lại thiếu nước trầm trọng. Hơn 2.000m2 đất nông nghiệp của gia đình tôi chỉ cấy được vụ mùa, còn vụ chiêm thì bỏ hoang vì không có nước. Vì thế, không đủ lương thực để ăn, chưa kể đến khi mất mùa do dịch bệnh, thời tiết thất thường…”.
Nghe đến đây, đồng chí Phó Chủ tịch UBND xã mở cuốn sổ ghi chép ra cộng cộng, trừ trừ một lúc rồi cho biết: Thôn Bình Minh và thôn Khe Hố hiện có trên 15ha đất nông nghiệp có thể cấy được 2 vụ lúa, song hiện nay toàn bộ diện tích đất này đành bỏ hoang vì thiếu nước sản xuất. Không những thế, trên 200 hộ ở 2 thôn này cũng không có đủ nước phục vụ cho sinh hoạt. Cả thôn Khe Hố đào được 3 cái giếng thì 2 cái đã bị nhiễm mặn không sử dụng được. Muốn có nước dùng, bà con phải đi sang thôn khác cách 2km xin nước gánh về.
Câu chuyện rủ nhau đi gánh nước ăn lúc nửa đêm, nghe như đùa, nhưng lại có thật ở đây. Cả thôn có 41 hộ thì cả 41 hộ ấy phải đi gánh nước. Đối với người dân tộc Dao ở đây, việc gánh nước là của phụ nữ. Tầm 2-3 giờ sáng là chị em lục tục xô thùng đi lấy nước ở những thôn khác. Mỗi ngày 5 đến 6 gánh mới tạm đủ dùng. Chị Đặng Thị Mai thốt lên: “Nước ngọt ở đây quý như vàng! Muốn có nước, phải dậy thật sớm tranh nhau đi gánh trước. Người nào đi muộn thì giếng cạn hết, chỉ có xách thùng không về. Nhiều hôm đến nơi, giếng cạn, người trong thôn có giếng không cho, đành phải về không. Khổ lắm!”.
Bao giờ nước Khe Cát về?
Mang những tâm tư của bà con đến làm việc với lãnh đạo xã Hải Lạng, chúng tôi được đồng chí Đinh Văn Khuây, Bí thư Đảng uỷ xã cho biết: “Lẽ ra Hải Lạng không rơi vào tình trạng thiếu nước như vậy, nếu như Dự án hồ thuỷ lợi Khe Cát sớm được triển khai. Khi biết dự án được phê duyệt, dân Hải Lạng vui mừng khôn xiết. Vậy mà từ đó đến nay, đã nhiều năm trôi qua, bà con ở đây cứ dài cổ ngóng. Đến nay, xã chúng tôi đã triển khai được nhiều hạng mục trong chương trình xây dựng nông thôn mới, trong đó có đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo thu nhập cao hơn cho người nông dân. Nhưng nếu không có nước sản xuất, thì dù có xây dựng bao nhiêu đề án để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ cũng chỉ là trên giấy thôi!”.
Qua tìm hiểu được biết, Dự án hồ thuỷ lợi Khe Cát được triển khai trên diện tích 100ha thuộc thượng nguồn suối Khe Cát. Khi hoàn thành, hồ sẽ phục vụ tưới tiêu cho hơn 620ha đất nông nghiệp của xã Hải Lạng, cung cấp nước cho 950ha nuôi trồng thuỷ sản, giảm lũ, chống ngập úng cho vùng nuôi trồng hải sản nước ở khu vực ven biển Hải Lạng. Cùng với đó, Dự án cũng sẽ cung cấp nước sinh hoạt cho gần 9.000 người dân ở 2 xã Hải Lạng và Đồng Rui của huyện Tiên Yên. Dự án này đã được Bộ NN&PTNT phê duyệt tại Quyết định số 3125 ngày 30-10-2009, có tổng mức đầu tư 282,314 tỷ đồng. BQL Đầu tư và Xây dựng thuỷ lợi 2 (Bộ NN&PTNT) làm chủ đầu tư những hạng mục cụm công trình đầu mối (đập, tràn, cống) với kinh phí 186,932 tỷ đồng; Sở NN&PTNT Quảng Ninh làm chủ đầu tư hệ thống đường tránh, kênh, công trình trên kênh... với kinh phí trên 58 tỷ đồng; UBND huyện Tiên Yên làm chủ đầu tư phần đền bù GPMB và một phần dự phòng với kinh phí 37,38 tỷ đồng. Sau khi GPMB và tái định cư cho các hộ dân, Dự án đã phải dừng lại vì chủ trương hạn chế đầu tư dự án mới của Chính phủ. Do không được bố trí vốn, nên dự án không thể triển khai các phần việc tiếp theo. Và đến nay, qua bao nhiêu lần kiến nghị, nhưng mọi thứ vẫn chỉ là con số không tròn trĩnh.
Thiết nghĩ, trước nhu cầu thực tiễn trong đời sống của bà con xã Hải Lạng, các ngành, các cấp cần sớm nghiên cứu đầu tư hệ thống thuỷ lợi để phát triển kinh tế, đảm bảo dân sinh, giúp địa phương sớm hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch đề ra. Trước mắt, nếu chưa có nguồn ngân sách để hoàn thành dự án hồ Khe Mai thì các cơ quan chức năng cần phải khảo sát, nghiên cứu để triển khai một số giếng khoan để cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ sản xuất và đời sống cho người dân nơi đây.
Quang Minh - Nguyễn Chiến