Gặp thuyền trưởng Vũ Văn Duy (thôn 1, xã Tân An, Yên Hưng) không khó để đoán ra ông là một “ngư dân chính hiệu”. Bởi với làn da sạm đen vì nắng gió, giọng nói nằng nặng, chân chất, và cả tính cách thẳng thắn, ăn sóng nói gió nữa, tất cả đều toát lên cái sự mặn mòi của một người suốt cuộc đời gắn bó với biển cả...
Chuyện của người từ cõi chết trở về...
Đã hơn 3 tháng trôi qua nhưng anh Trần Phú Cương (xã Vĩnh Phúc, Bắc Quang, Hà Giang) vẫn chưa quên được cuộc gặp gỡ định mệnh với người mà giờ đây anh nhận là cha nuôi của mình. Vốn là lao động của HTX vận tải Trung Hải (Nam Định), anh cùng 5 người nữa được giao chở hàng đi Trung Quốc. Đến cửa biển Ba Lạt, không may tàu bị hỏng máy. Suốt từ 6h sáng đến 4h chiều, con tàu trôi dạt tự do trên biển. Không may đó cũng là thời điểm cơn bão số 7 đang tiến vào biển Đông khiến biển động, sóng lớn. Sốt ruột, người phụ lái Nguyễn Văn Quang lên boong tàu kiểm tra thì bị sóng cuốn xuống biển. Tính đến tình huống xấu nhất là tàu chìm nên 5 người còn lại đành chuẩn bị áo phao, thùng xốp, đồ ăn... Tuy nhiên, khi một cơn lốc kéo đến làm lật tàu thì thuyền trưởng Nguyễn Đình Sắc không kịp nhảy ra khỏi buồng lái nên chìm cùng con tàu. Còn anh Cường và 3 người nữa (gồm máy trưởng Đỗ Văn Tuất (xã Xuân Bắc, Xuân Trường, Nam Định); Đoàn Văn Dũng (xã Bình Thanh, Kiến Xương, Thái Bình) và anh Trần Văn Thảo (xã Hồng Tiến, Kiến Xương, Thái Bình) tìm được nhau và kết phao thành bè. Ông Tuất cao tuổi nhất (52 tuổi) nên được ngồi trên bè, cầm áo phao giơ lên cầu cứu. Còn lại những người khác ngâm mình trong nước lạnh. Cứ thế, 4 người bám víu lấy phao, bám víu lấy nhau lay lắt sống qua ngày bằng vài gói mì tôm và một chai nước lọc...
Thuyền trưởng Vũ Văn Duy.
Kể lại, anh Cường vẫn không giấu được vẻ kinh hoàng: ''Hai ngày trên biển là hai ngày dài nhất đời tôi. Xung quanh chúng tôi mênh mông toàn nước và trời. Chúng tôi không có sức mà bơi, và nếu có sức thì cũng không biết bơi về hướng nào, nên cố gắng bám lấy phao, phó mặc cho dòng nước đưa đi. Đã thế, trời lại mưa, bão, biển động, chúng tôi hết trồi lên lại sụt xuống theo sóng. Hết ngày rồi đến đêm, thời gian cứ đằng đẵng trôi. Đói, khát, kiệt sức, có khi chúng tôi chỉ muốn buông tay nhưng rồi nhớ đến vợ, con, gia đình nên cố gắng động viên nhau. Để giết thời gian, chúng tôi nghêu ngao hát linh tinh, kể chuyện về gia đình, làng xóm, tưởng tượng ra viễn cảnh được cứu. Người nọ an ủi người kia: ''Yên tâm đi! Số mày không chết được đâu, có tàu đến cứu bây giờ đấy''. An ủi nhau như thế nhưng chúng tôi đều biết hy vọng đó là rất mong manh. Hai ngày ấy, chúng tôi cũng nhìn thấy 4 con tàu. Mấy anh em chúng tôi hết vẫy áo phao, gào thét kêu cứu mà chẳng có tàu nào quay mũi lại cả. Không biết là họ không nghe thấy, nhìn thấy hay là cố tình lờ chúng tôi đi. Nhiều người đi biển quan niệm rằng bị nạn trên biển là đã ''hết số'', bị Hà Bá đòi mạng nên không ai dám cưỡng lại. Nếu cố tình cứu người chết đuối, sẽ phải thế mạng cho người được cứu''. Nói rồi, anh thở dài và kể tiếp: ''Trong lúc hết hy vọng thì tôi nhìn thấy tàu của bố Duy tiến đến. Mừng lắm nhưng chúng tôi cũng không còn sức để mà kêu, mà gọi nữa. Đặt chân lên sàn tàu mà tôi cứ ngỡ như là mơ ấy. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ được mỗi một điều là ''sống rồi, được về nhìn mặt người thân rồi''. Tính ra, chúng tôi ở trên biển 2 ngày, trôi xa hơn 100km từ chỗ tàu chìm''.
Với anh Cương và ông Tuất, anh Dũng, anh Thảo, cuộc gặp đầu tiên với ông Duy là kỷ niệm đến chết cũng không thể quên. Nhưng hỏi chuyện thuyền trưởng Nguyễn Văn Duy, ông chỉ nói đơn giản: ''Lúc đó, tôi đang lái tàu thì nhìn thấy có cái gì đó đang trôi trên biển. Vì là trời vừa bão xong nên tôi nghĩ có thể là người gặp nạn nên lái tàu đến. Thấy 4 anh em, tôi gọi mọi người cùng vớt lên thôi. Lúc đó, thấy người sắp chết thì tôi cứu chứ không còn nghĩ gì đến việc kiêng kỵ nọ kia nữa...''.
Người con của biển
Sinh ra và lớn lên ở vùng ven biển Yên Hưng, cả cuộc đời ông Duy gắn bó với biển, với con tàu đánh cá. Ngay từ nhỏ, ông đã theo cha ra biển đánh cá. Đến nay, 3 người con của ông cũng theo nghề của cha. Con trai cùng bố ra khơi đánh cá, con gái ở nhà cùng mẹ vá lưới, soạn đồ cho những chuyến tàu đi xa. Con tàu Thống Nhất 1 của ông là kế sinh nhai của 8 gia đình, trong đó có gia đình ông và 3 người con trai, con rể cùng với mấy người cháu trong họ. Hàng chục năm gắn bó với nghề cá (ông sinh năm 1954) nên với ông, biển như là nhà, là người cha hào phóng. Nhờ vào nghề đi biển mà ông đã xây dựng cho gia đình được một ngôi nhà khang trang, lo cho các con có nghề, có nghiệp. Ông bảo: ''Ngày xưa ngư dân có tục lệ là nếu thấy người bị chết trên biển thì không vớt, gặp người bị nạn trên biển cũng không cứu vì sợ Hà Bá đòi thế mạng hoặc xúi quẩy, cá không vào lưới. Bây giờ không thế nữa rồi. Gặp người sắp chết mà không cứu là bất nhân. Kể cả xúi quẩy, không làm ăn được cũng phải cứu chứ. Mà thật ra đó cũng là một hủ tục lạc hậu, chẳng có cơ sở nào cả. Hàng nghìn năm nay, biển hào phóng nuôi sống bao nhiêu người, chẳng có lý gì lại lấy mạng người cả. Tai nạn chỉ là không may thôi''.
Nói rồi, ông kể chuyện quanh nhà của ông, nhiều người đã vớt xác người chết đuối trên biển, bỏ cả chuyến đánh cá để đưa xác về đất liền giao cho chính quyền. Họ làm điều đó mà chỉ nghĩ đó là việc cần làm, đâu cần biết người chết là ai, đâu cần phải trả công...
Câu chuyện giữa chúng tôi xoay từ chuyện cứu người đến chuyện nghề khơi, nghề lộng, ông Duy cho biết: ''Nghề biển xưa nay vẫn đòi hỏi lao động phải chịu khổ, chịu khó. Với những ngư dân nghèo như chúng tôi, tiền đầu tư thuyền, ngư cụ không có, suốt ngày quanh quẩn gần bờ thu nhập cũng không đáng là bao. Việc khai thác ngày càng khó khăn, nhiều người không chịu nổi vất vả bỏ đi tìm việc khác. Nhưng tôi sẽ vẫn bám biển, bám nghề cá. Không phải vì không làm nổi nghề khác mà vì đây là nghề ông cha để lại phải phát triển nó chứ không làm nó lụi đi. Cũng may, gần đây nhà nước cũng hỗ trợ tiền dầu, tiền bảo hiểm... nên ngư dân chúng tôi cũng bớt khó khăn mà tiếp tục với nghề...''.
Gặp thuyền trưởng Vũ Văn Duy, trò chuyện, hiểu thêm về ông, chúng tôi càng thêm ấn tượng với người dân chài bình dị này. Với ông, việc cứu 4 mạng người ''là điều hiển nhiên'', là đạo lý ''sống ở trên đời thấy người gặp nạn thì cứu'', vậy thôi! Kể cả việc ông đưa 4 người về nhà, chăm sóc, lo ăn ở liên lạc cho người thân của họ đón về thì cũng chỉ là điều ''ai cũng làm thế mà''. Có lẽ đó chính là điều những người gặp nạn nhận thấy ở ông và nằng nặc nhận ông làm cha nhận, coi người thân của ông như người thân trong gia đình mình. Những người như ông thật đáng quý, đáng trân trọng!