Sáng sớm tại Đồn Biên phòng số 23, tôi tỉnh dậy theo tiếng giục: “Nếu nhà báo muốn đến bản thì phải đi sớm, kẻo mùa này bà con hay đi rừng rất khó gặp...”. Hơn 30 phút sau, chúng tôi đã đặt chân lên bản Ngàn Phe...
Cách đây hơn 7 năm, tôi đã có dịp đến bản Ngàn Phe (xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu). Ngày ấy, đường vào bản phải vượt qua một ngọn đồi dốc, rất khó đi. Cả bản không có lấy một ngôi nhà mái ngói. Cuộc sống của bà con nơi đây chủ yếu dựa vào mấy chục mẫu ruộng quanh năm thiếu nước. Đất lâm nghiệp thì nhiều, nhưng chưa được tận dụng, khai thác... Vậy mà nay trở lại, thấy nhiều ngôi nhà vững chãi được xây dựng. Khu vực đầu bản ngày nào là bãi sim và cỏ dại, nay là những thửa ruộng, vườn rau xanh mướt. Con đường từ trung tâm xã vào bản đang được thi công, điện lưới quốc gia cũng đã đến từng nhà. Anh cán bộ Biên phòng đi cùng, phấn khởi khoe: “Bây giờ bà con ở đây chẳng thua nhiều so với khu vực miền xuôi đâu. Hầu như nhà nào cũng có ti vi, xe máy, thóc đầy bồ, lợn gà đầy chuồng, con cái nhà ai cũng được đi học...”. Nhà mà chúng tôi ghé thăm đầu tiên là Trưởng bản Hoàng Phúc Niệp. Lúc này, cả nhà ông đang nghiên cứu cách chế tạo lưỡi dao sắt để lấy nhựa thông. Thấy khách đến nhà, ông Niệp đon đả mời chào, giới thiệu: “Đồi thông của Lâm trường 156 giao cho bà con đã bắt đầu được lấy nhựa, nhưng dao mua từ chợ về vừa đắt, lại không bền. Tôi bàn với mấy người trong bản, mua máy về nghiên cứu tự rèn dao. Cái bí là kỹ thuật tôi dao rất khó, nếu không đúng cách thì chỉ tốn công, vô ích”. Nói rồi ông Niệp lấy một lưỡi dao từ trong bếp than đang đỏ lửa, nhúng vào xô nước bên cạnh. Chờ một lúc, ông nhấc dao ra, rồi chém mạnh vào sống một chiếc dao khác. Mắt ông Niệp tỏ vẻ hài lòng. Ông với tay tắt bếp, rồi rót rượu đãi khách. Sau vài tuần rượu khoai, câu chuyện giữa chủ và khách về mảnh đất Ngàn Phe đã trở nên rôm rả hơn. Ông tự hào bảo, bản miền núi, biên giới Ngàn Phe có được sự đổi thay như hôm nay là cả một “hành trình vượt gian nan, vất vả”. Hiện bản có vài chục hộ người Dao sinh sống, nhưng chẳng ai còn nhớ rõ bản được hình thành từ bao giờ. Từ bao đời nay, đồng bào ở đây đã quen sống trong cảnh tạm bợ, cái nghèo khó, túng thiếu bám riết hết đời cha đến đời con. Đứa trẻ sinh ra đã thiếu cơm, thiếu sữa, thiếu quần áo mặc. Ông Niệp cũng như nhiều người dân ở đây đều biết rằng, nguyên nhân của nghèo đói là do phong tục tập quán lạc hậu, cộng với đường sá đi lại khó khăn... Nhưng biết là một chuyện, khắc phục lại là chuyện khác. Tuy ruộng đất nhiều, nhưng cằn cỗi và thiếu nước canh tác, nên bà con có trồng lúa, trồng màu cũng thu hoạch chẳng được bao nhiêu. Có những năm, gia đình ông tốn bao sức lực để cấy được sào lúa, đến khi gặt chỉ được vài ba cân thóc lép. Do phải đầu tắt mặt tối kiếm sống, nên hầu như không có hộ nào trong bản có thời gian, điều kiện để tu sửa nhà cửa. Cả bản chung cảnh nhà dột nát. Trời mưa, có cái chăn, cái chiếu nào đều phải mang ra che thùng gạo, thùng thóc. Có nhà không may để mưa ướt hết gạo, đành nấu một bữa cả nhà ăn no, rồi những ngày sau nhịn đói. Đói nghèo và thất học là tình cảnh chung lúc đó. Cả bản hầu như không ai biết chữ. “Bởi mọi người đều quan niệm rằng, chỉ cần gạo thóc đầy bồ, khoai sắn đầy gầm giường là đủ, chứ học chữ có ra cái ăn đâu” - Trưởng bản Hoàng Phúc Niệp tợp thêm một ngụm rượu, rồi kể tiếp: Hồi đó, mọi nhân lực trong nhà đều được huy động lên rừng hoặc xuống ruộng kiếm ăn, nhưng đói vẫn hoàn đói. Đã thế, phong tục sinh hoạt lại lạc hậu. Nhà ở của người liền với chuồng trại chăn nuôi, khắp bản chỗ nào cũng ngập ngụa phân do gia súc và người thải ra, cộng với việc ăn uống mất vệ sinh, dẫn đến thường xuyên đau ốm, bệnh tật. Nhưng mỗi khi ai đó bị ốm đau, lại cho rằng là do “con ma” nó hành, nên các gia đình chỉ biết mời thầy cúng, thầy mo về làm lễ xua đuổi tà ma… “Mọi sự đổi thay bắt đầu từ khi có chủ trương xoá nhà tạm cho hộ nghèo của Đảng và Nhà nước” - Ông Niệp khẳng định. Đến bây giờ, bà con nơi đây vẫn nhớ “cái thời khắc” đó: Vào một ngày đẹp trời cách đây nhiều năm, bỗng dưng cả bản rợp bóng cờ và màu áo xanh của BĐBP. Đó là ngày các anh hành quân về thực hiện chủ trương xoá nhà tạm cho cả bản. CBCS Đồn Biên phòng số 23 đã phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện Bình Liêu thực hiện “3 cùng” với dân bản để vừa làm nhà, vừa tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân cách làm ăn mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ. Cùng với đó là vận động bà con di dời chuồng trại chăn nuôi ra khỏi khu vực gia đình sinh hoạt, xây dựng nhà vệ sinh hợp lý; nhất là mở các lớp xoá mù chữ cho con em dân bản, mở đường giao thông từ trung tâm xã Đồng Tâm vào bản. “Ngày đầu thực sự là gian nan, quá nhiều việc phải làm, phải nghĩ...” - Anh cán bộ biên phòng tham gia. Cũng may, chủ trương đã được người dân ở đây rất nhiệt tình hưởng ứng. Bà con đã bỏ hàng trăm ngày công cùng với bộ đội biên phòng sửa đường, vận chuyển vật liệu vào làm nhà. Đến khi các ngôi nhà hoàn thành cũng là lúc thanh, thiếu niên ở đây biết mặt chữ, các cụ già đã nói tiếng phổ thông khá thạo. Đặc biệt là tập quán canh tác lạc hậu, các hủ tục từng bước được xoá bỏ, thay vào đó là ý thức về sản xuất hàng hoá dần hình thành. Cách đây vài năm, lưới điện quốc gia đã kéo đến tận bản, khiến việc tiếp thu khoa học kỹ thuật của đồng bào càng thuận lợi hơn. Được sự quan tâm đầu tư của cấp trên, cùng với từng bước phát huy nội lực, khai thác tiềm năng, đến nay người dân nơi đây đã chuyển đổi thành công cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ. Sản xuất phát triển, đời sống của người dân bản được cải thiện đáng kể. Hiện bản có 70 hộ, thì 100% hộ có ti vi, 70% số hộ có xe máy. Trưởng bản Hoàng Phúc Niệp ực một hơi hết chén rượu cuối, giọng đầy sảng khoái: “Ầy dà! Hộ nghèo tuy vẫn còn nhiều, nhưng so với trước kia đã là tốt lắm rồi. Chỉ cần vài vụ thu hoạch nữa thôi, chắc chắn bản không còn ai nghèo nữa đâu. Bây giờ, bản có nhiều mô hình mới thoát nghèo hay lắm. Nhà báo cứ theo tôi rồi sẽ biết ngay thôi”. Nói rồi, ông Niệp dẫn chúng tôi qua một ngọn đồi đến thăm gia đình ông Tằng Chi Bình để giới thiệu mô hình nuôi cầy hương và dũi. Được trưởng bản giới thiệu, ông Bình hào hứng kể: “Trước đây vùng rừng núi quanh bản nhiều thú rừng lắm, nhưng do săn bắn tràn lan, nên nay chẳng còn là bao. Mấy hôm trước, tôi đi đặt bẫy thì bắt được con cầy này. Định bụng để hôm sau mang ra chợ biên giới bán lấy vài triệu đồng. Nhưng đúng tối hôm ấy, trên ti vi phát chương trình hướng dẫn nuôi nhím, lợn rừng. Nhìn con cầy hương có chửa, tôi nghĩ người ta nuôi được lợn rừng, sao mình không nuôi được cầy hương. Thế là tôi để lại nuôi và chờ ngày nó đẻ”. Nuôi cầy hương thì mới, còn dũi thì ông Bình đã nuôi từ lâu. Ông bảo, trước đây dũi rừng ở quanh bản khá nhiều, nhưng mỗi khi bắt được thường đem bán hoặc thịt ăn, chẳng ai nghĩ đến chuyện nuôi. Thế rồi, một lần bắt được đàn dũi cả mẹ lẫn con, ông giữ lại để nuôi. Đến nay, trong lồng nhà ông có tới 4-5 đàn dũi thịt. Ông Bình cho biết, nếu nuôi tốt, chỉ vài tháng là có được vài kg dũi thịt, với giá hiện nay gần 500 ngàn đồng/kg, chắc chắn đây sẽ là mô hình làm giàu khi được nhân rộng. Theo anh cán bộ biên phòng, thì gia đình ông Bình vốn là một trong những hộ nghèo “điển hình” của bản. Từ khi thực hiện các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất của huyện, của BĐBP, gia đình ông cũng như nhiều hộ khác trong bản đã mua được xe máy, ti vi, đời sống ngày một nâng lên... Chúng tôi tiếp tục đến thăm gia đình ông Nỉ Cắm Sùi. Lúc này trong nhà ông đang có tốp thanh niên ngồi hát karaoke rất say sưa, như quên cả khách lạ vào nhà. Cũng như nhiều gia đình khác trong bản, sau khi được hướng dẫn kỹ thuật canh tác, gia đình ông mạnh dạn vay vốn, đưa những giống lúa mới vào cấy đại trà, nên năm nào cũng thu được gần 2 tấn thóc, vài tấn lợn, gà thịt. Ông Sùi còn đầu tư trồng hơn 1 ha quế, thông lấy nhựa, mỗi năm cho thu vài triệu đồng. Ông Sùi bảo: “Mới vài năm trước, còn phải quanh năm, suốt tháng lên đồi tìm cây thuốc, chờ đến phiên chợ thì mang xuống bán, lấy tiền mua gạo, mua mỡ, ấy vậy cháo cũng không đủ ăn. Vậy mà bây giờ có nhà kiên cố để ở, có ti vi xem, xe máy đi lại, cơm không sợ thiếu... Nghĩ lại cứ ngỡ như mơ”. Chúng tôi rời Ngàn Phe khi mặt trời đã đứng bóng. Trên những dãy núi cao, rừng thông mới trồng đang kỳ sinh trưởng khẽ rì rào, như tấu lên bản nhạc ngợi ca cuộc sống mới ở Ngàn Phe.
Ông Tằng Chi Bảo giới thiệu cách nuôi dũi thịt.