Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ và tay sai, cùng với quân, dân cả nước, Quảng Ninh có hàng vạn lượt người con ưu tú tình nguyện vào Nam chiến đấu. Họ đã góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. 40 năm trôi qua, những người lính năm xưa nay đều đã lên ông, lên bà, cuộc sống hối hả đời thường dù có khó khăn, có vất vả nhưng ký ức hào hùng chưa bao giờ phai mờ trong tâm trí họ.
Chính ký ức đó đã tiếp thêm niềm tin, nghị lực cho họ khi trở về với cuộc sống đời thường tiếp tục trở thành những tấm gương sáng cho thế hệ trẻ trân trọng, học tập, noi theo...
Người thương binh “tàn nhưng không phế”
Chiều một ngày cuối tháng 4 lịch sử, chúng tôi tìm đến gia đình CCB Đặng Quang Long tại tổ 1, khu 8B, phường Quang Hanh, TP Cẩm Phả thì gặp ông đang ngồi ngoài hiên với dáng vẻ ưu tư. Anh Đặng Nguyễn Tất Đạt, con trai ông, nói nhỏ: “Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp 30 tháng 4 tâm trạng ông lại buồn vui lẫn lộn. Ông nhớ chiến trường xưa, nhớ đồng đội cũ của mình!”.
Sinh năm 1946 tại xã Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội (nay là quận Hoàng Mai), khi trưởng thành ông Đặng Quang Long đi làm công nhân ở Khu gang thép Thái Nguyên. Năm 1964, căm phẫn trước hành động tàn bạo của Mỹ đối với đất nước, ông làm đơn tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào C11, D6, E165, F312. Kết thúc huấn luyện, đơn vị được lệnh hành quân thần tốc vào miền Nam. Cuối năm 1968, đơn vị của ông Đặng Quang Long tiến sang khu vực Mường Sủi (Lào) hoạt động. Sau một lần trinh sát về công tác bố phòng của địch, ông bị thương nặng. Lúc đó, cả đơn vị đang trong vòng vây của địch, ông đã nghĩ mình không còn cơ hội sống sót, thế nhưng, nhờ đồng chí, đồng đội dũng cảm ứng cứu kịp thời, nên ông đã thoát ra hậu cứ an toàn. Sau khi điều trị vết thương xong, ông đã phải ngậm ngùi cầm quyết định ra quân. Kể đến đây, mắt ông Long ướt lệ: “Buồn nhất là sau này tôi hay tin hầu hết các đồng chí cùng đơn vị mình đều đã lần lượt hy sinh cả. Số ít sống sót, đến tận bây giờ tôi vẫn chưa có dịp gặp lại”.
Rồi ông bảo: “Có một thực tế đến bây giờ ít người biết được rằng, lúc điều trị xong vết thương, tuy mới gần 23 tuổi đời, nhưng tôi đã bị tổn hại vĩnh viễn trên 60% sức khoẻ. Thế nhưng, tôi vẫn còn muốn cống hiến thật nhiều. Tôi không muốn bị coi như phế nhân nên liều “ém nhẹm” hồ sơ bệnh án, khai rằng mình chỉ bị mất khoảng gần 30% sức khoẻ để tiếp tục được đi làm công nhân trong một đơn vị thuộc Bộ Năng lượng lúc bấy giờ”. Đến năm 1972, ông thi đỗ vào Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Sau 5 năm học tập, ông ra trường và được điều về Vùng mỏ công tác. Tại đây, ông đã phấn đấu không ngừng và lần lượt được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng. Trước khi nghỉ hưu, ông là Phó Giám đốc Công ty Than Dương Huy. Ông còn nhớ, thời điểm mình được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Công ty là vào những năm cuối thế kỷ trước. Đây được coi là một trong những thời kỳ khó khăn nhất của toàn ngành. Than sản xuất ra nhiều không bán được, thu nhập của người lao động giảm từng ngày. Dưới lò sâu, trên công trường lộ thiên, do công nghệ lạc hậu, công nhân thường xuyên đối mặt với những rủi ro, nguy hiểm. Vì thế, với cương vị của mình, ông trăn trở bàn với tập thể Ban Giám đốc từng bước đưa ra các giải pháp ổn định sản xuất và mang về cho doanh nghiệp nhiều hợp đồng tiêu thụ than, giúp Công ty từng bước vực dậy để rồi có được sự bứt phá mạnh mẽ như ngày hôm nay.
Dẫn chúng tôi dạo quanh căn nhà nhỏ nhưng ấm áp, CCB Đặng Quang Long tự hào: “Tôi biết Tổ quốc luôn tri ân những người đã gửi xương máu nơi chiến trường như tôi. Nhưng tôi luôn sống và làm việc với tâm niệm phải cống hiến nhiều nhất có thể, không vì mình là thương binh mà đòi hỏi hơn người khác. Như thế mới là thực hiện đúng lời dạy của Bác “Thương binh tàn, nhưng không phế”.
“Vững vàng trên các mặt trận”
Đó là phương châm sống của Đại tá Nguyễn Quang Vinh, nguyên Phó Chỉ huy trưởng về Chính trị, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh từ khi bước chân vào quân ngũ. Không giống CCB Đặng Quang Long, Đại tá Nguyễn Quang Vinh là người sinh ra và lớn lên tại xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Cả cuộc đời ông đã gắn với nghiệp nhà binh. Và những cống hiến của ông từ khi là chiến sĩ đến khi trở thành sĩ quan cao cấp trong quân đội, nếu viết ra sẽ tốn không ít giấy mực. Qua lời kể của người lính già này, chúng tôi biết thêm rằng, trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang tỉnh (nay là BĐBP tỉnh) có tới 19 lượt chi viện cho chiến trường miền Nam với trên 1.700 lượt CBCS. Và tất nhiên, trong đó có những người con ưu tú không bao giờ trở về.
Cuối năm 1973, Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân Vũ trang có nhiệm vụ thành lập một Tiểu đoàn khẩn cấp chi viện cho miền Nam. Trong đợt đi ấy, Quảng Ninh có 38 CBCS do Nguyễn Quang Vinh làm Phân đội trưởng với nhiệm vụ vào để bảo vệ Trung ương cục miền Nam. Trong ngày tuyên thệ làm lễ lên đường, Phân đội đã vinh dự được lãnh đạo UBND tỉnh tặng lá cờ thêu 8 chữ “Dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quyết thắng”. Trước tình cảm đó của quê hương, cả đơn vị lên đường với quyết tâm “Ra đi giữ trọn lời thề, không thắng giặc Mỹ không về quê hương”. Vừa vào tới miền Nam, đơn vị ông đã tham gia ngay vào Chiến dịch Tây Nguyên. Những ngày sau đó, đơn vị của ông đã xuôi theo đoàn quân giải phóng tiến thẳng về phía Sài Gòn. Trong một trận đánh ở địa bàn Sông Bé ông bị thương nặng, mảnh đạn găm vào đầu nhưng vân kiên cường cùng đồng đội xông lên đối mặt với kẻ thù. Tuy nhiên, được một lúc thì ông ngã xuống ngất lịm. Dù vết thương vẫn chưa điều trị dứt điểm, ông vẫn kiên quyết lên đường theo đoàn quân vào Sài Gòn. Trưa 30-4-1975, đơn vị của ông được lệnh tiến vào Dinh Độc Lập, Tổng Nha Cảnh sát Ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất… Ông bảo: “Khi ấy, ngồi trên chòi cao nhìn quân và dân nô nức trong ngày đại thắng, nhớ đến đồng đội hy sinh trước thềm giải phóng, chúng tôi không thể kìm lòng đều bật khóc nức nở”.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông tiếp tục trở về công tác tại Công an Nhân dân Vũ trang Quảng Ninh và được bổ nhiệm lần lượt các chức vụ từ cán bộ chính trị, Chủ nhiệm chính trị rồi làm Phó Chỉ huy trưởng Chính trị. Từ đó đến khi nghỉ hưu, Đại tá Nguyễn Quang Vinh đã cống hiến rất nhiều mô hình cho sự nghiệp xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững chắc trên địa bàn. Đáng quý hơn, hiện nay, tuy đã 74 tuổi, nhưng với cương vị là Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian tỉnh, người lính già Nguyễn Quang Vinh vẫn đang miệt mài nghiên cứu về văn hoá dân gian trên địa bàn tỉnh như văn hoá ẩm thực ở Quảng Ninh; 101 món ăn ở Quảng Ninh cùng nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác… Đây là nguồn tư liệu quan trọng để tỉnh khai thác, phát triển kinh tế du lịch, thiết thực triển khai có hiệu quả việc chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”.
Quang Minh