Trước tình trạng khai thác thủy sản một cách tràn lan dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, năm 2004 Chính phủ đã có quyết định phê duyệt "Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010", tháng 8-2005, UBND tỉnh Quảng Ninh cũng giao cho Sở Thủy sản chủ trì phối hợp với các ngành, địa phương xây dựng chương trình Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại Quảng Ninh đến năm 2010. Sau một năm nghiên cứu, xây dựng và tham khảo ý kiến của các ngành, địa phương, cuối tháng 8 vừa qua, Sở Thủy sản đã trình UBND tỉnh chương trình Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Phóng viên Báo Quảng Ninh đã có cuộc trao đổi với ông Cao Tuy, Giám đốc Sở Thuỷ sản Quảng Ninh về vấn đề này.
- Thưa ông, được biết vừa qua, Sở Thủy sảnđã hoàn thiện và trình UBND tỉnh chương trình "Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010, định hướng đến năm 2020". Ông có thể cho biết những mục tiêu mà chương trìnhđặt ranhư thế nào?
- Từ nay đến 2010, để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, chúng tôi đưa ra các mục tiêu cụ thể: khoanh vùng phục hồi, bảo tồn các hệ sinh thái và quy định các vùng cấm khai thác có thời hạn như: bảo vệ và tái tạo bãi tôm tự nhiên hòn Mỹ, hòn Miều thuộc huyện Hải Hà; bãi bào ngư và bãi cá đẻ ở Cô Tô, hầu sông ở Yên Hưng; tu hài, sá sùng ở Vân Đồn..., hạn chế đánh bắt gần bờ nhằm bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng gần bờ; thành lập các khu bảo tồn biển Cô Tô, Vịnh Hạ Long. Đồng thời, hằng năm sản xuất giống tôm, cá biển và cá nước ngọt để thả ra các vùng nước tự nhiên nhằm bổ sung tái tạo nguồn lợi thủy sản, khôi phục sự cân bằng ở các ngư trường khai thác chính, vùng ven bờ. Trên cơ sở đó, từng bước ổn định cơ cấu nghề nghiệp, tàu thuyền khai thác phù hợp với ngư trường, nguồn lợi thủy sản, phấn đấu đến năm 2020 khai thác thủy sản đạt mục tiêu "Khai thác ổn định và bền vững"
- Vậy ngành Thủy sản đã đề ra những giải pháp gì để có thể đạt được các mục tiêu đó?
- Để đạt được những mục tiêu kể trên, chúng tôi đã xây dựng 9 giải pháp gồm: tuyên truyền, giáo dục cộng đồng bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản;điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế thủy sản đến 2010, quy hoạch các vùng bảo tồn và phục hồi tái tạo nguồn lợi thủy sản, xây dựng chương trình và kế hoạch bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản cụ thể ở các địa phương trong tỉnh; củng cố nghề khai thác thủy sản, chuyển đổi tàu khai thác ven bờ sang nuôi trồng và làm các nghề khác, nâng cấp, đóng mới tàu khai thác xa bờ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nâng cao năng lực quản lý ngành và huy động sự tham gia của cộng đồng; đào tạo nhân lực phục vụ nghề cá; cơ chế chính sách và vốn; tăng cường sự phối hợp, hỗ trợ của Bộ Thủy sản, của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ khai thác nuôi trồng và sản xuấtgiống thủy sản, thanh, kiểmtra bảo vệ nguồn lợi thủy sản, trao đổi thông tin về điều tra nguồn lợi vùng biển giáp ranh... 9 giải pháp cơ bản này đều gắn với nhiệm vụ rất cụ thể. Ví dụ như trong giải pháp đào tạo nhân lựcphục vụ nghề cá, chúng tôi đưa ra nội dung cụ thể: ngành thủy sản sẽ phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành và các trung tâm dạy nghề trong tỉnh tổ chức đào tạo, trang bị kiến thức cho ngư dân để có trình độ tiếp thu công nghệ mới trong khai thác, nuôi trồng thủy sản một cách bền vững. Đồng thời, đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên, kỹ thuật nuôi,, kỹ thuật khai thác cho ngư dân...vv và vv. Tuy nhiên, để thực hiện được những giải pháp này cần có nguồn kinh phí lớn, vì vậy phải có những cơ chế, chính sách hỗ trợ,đầu tư để chương trình có thể đi vào thực tế.
- Kinh phí cụ thể cho chương trình là bao nhiêu và ngành Thủy sản đã tính toán như thế nào?
- Tính một cách tổng thể, nguồn vốn đầu tư cho chương trình sẽ là 47 tỷ đồng; trong đó dự kiến kinh phí từ ngân sách nhà nước là 11,6 tỷ đồng và huy động từ các nguồn khác là 36,3 tỷ đồng. Theo tính toán của chúng tôi, giải pháp củng cố nghề khai thác thủy sản, chuyển đổi tàu khai thác ven bờ sang nuôi trồng và làm các nghề khác, nâng cấp, đóng mới tàu khai thác xa bờ là "tốn" nhất. Chỉ tính riêng việc xây dựng một số mô hình chuyển đổi nghề khai thác ven bờ sang nuôi trồng thủy sản và các nghề khác cho khoảng 100 tàu đã mất kinh phí khoảng 3 tỷ đồng. Tương tự như thế, việc nâng cấp 100 tàu khai thác ven bờ thành tàu khai thác xa bờ cũng cần khoảng 6 tỷ đồng, để đóng mới một tàu cá có thể ra khơi xa cần ít nhất là 500 triệu đồng. Trong khi đó từ nay đến năm 2010 cần đóng mới hơn 40 tàu đánh bắt xa bờ cho bà con ngư dân. Tất nhiên, những kinh phí này chủ yếu là do ngư dân tự bỏ ra nhưng muốn họ tham gia vào chương trình cũng cần có chính sách hỗ trợ họ một phần. Có thế mới khuyến khích được họ vì nếu cứ tiếp tục để ngư dân bám vào việc khai thác gần bờ sẽ nhanh chóng dẫn đến việc cạn kiệt nguồn lợi thủy sản.
Đó là đầu tư cho phát triển đánh bắt xa bờ và hạn chế đánh bắt gần bờ, còn về đầu tư cho ứng dụng khoa học- công nghệ trong các hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản cũng rất tốn kém. Để phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản cần tái tạo quần thể đàn đối với các giống loài, chủ yếu như thả giống tôm, cá biển, cá nước ngọt ra các vùng tự nhiên. Bên cạnh đó, cần phải nhập công nghệ sinh sản nhân tạo một số giống nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao như bào ngư, tu hài, các loài cá quý đang khan hiếm... và ứng dụng, nhập công nghệ khai thác có chọn lọc, ngư cụ khai thác tiên tiến của nước ngoài vào khai thác tại địa phương, xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản, dự báo nguồn lợi thủy sản, môi trường... Để thực hiện được những nội dung này thì cũng cần hơn 6 tỷ đồng. Đấy còn chưa kể vốn đầu tư cho các giải pháp khác...
- Theo ông, nếu được đầu tư thực hiện đúng lộ trình, chương trình sẽ đạt được những hiệu quả gì?
- Khi xây dựng chương trình này, chúng tôi đã tính toán đến những hiệu quả kinh tế và xã hội mà nó đạt được. Về mặt kinh tế, đến năm 2010, ngành thủy sản Quảng Ninh sẽ đạt mục tiêu: tổng sản lượng thủy sản đạt 72.000 tấn, ổn định cơ cấu nghề nghiệp, tăng khả năng tích lũy trong dân để tái sản xuất mở rộng phát triển nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá. Ngành thủy sản cũng phát triển một cách bền vững, từng bước CNH-HĐH, nâng cao giá trị xuất khẩu,, nguồn lợi thủy sản được sử dụng lâu dài để vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ vừa duy trì được nguồn lợi cho kế hoạch phát triển thủy sản trong tương lai. Ngoài ra, chương trình cũng góp phần bảo vệ, bảo tồn được các loài thủy sản quý hiếm, phát triển bền vững, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên biên. Còn về mặt xã hội, chương trình thiết lập được kế hoạch quản lý tổng hợp, thực hiện nghề cá có trách nhiệm, tăng cường quản lý nhà nước về nguồn lợi thủy sản. Mặt khác, chương trình cũng góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho lao động nghề cá và gắn mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, môi trường sinh thái để phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản bền vững...
- Xin cảm ơn ông!