Nghệ nhân đóng tàu Lê Đức Chắn: "Với tôi, nghề này đã ăn vào máu..."

Nghệ nhân Lê Đức Chắn (phường Phong Hải, TX Quảng Yên) là một trong số ít những người có tay nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ truyền thống cao nhất ở vùng làng đảo Hà Nam. Những bí quyết của cha ông truyền lại cộng với sự học hỏi kỹ thuật thiết kế vỏ hiện đại đã giúp ông Lê Đức Chắn có được nhiều đơn đặt hàng, không chỉ của bà con ngư dân trong vùng mà cả từ nhiều tỉnh, thành vùng duyên hải Bắc Bộ. Mới đây, ông đã được Hội đồng cấp tỉnh gửi hồ sơ lên Hội đồng chuyên ngành của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xét chọn công nhận Nghệ nhân Ưu tú...

Trò chuyện với chúng tôi, nghệ nhân Lê Đức Chắn tâm sự:

+ Tuy chưa biết kết quả thế nào, nhưng tôi vẫn rất vui. Tôi vui vì như thế là cái nghề của ông cha đã và sẽ tiếp tục được ghi nhận tôn vinh, đúng như những điều đã được viết trên bia đá (năm 1865) và sắc phong (1895), rằng đây là một nghề “Ích nước - Lợi nhà, Dân lợi - Khí dụng”…

- Đây là một nghề truyền thống, vậy ông có thể cho biết các cụ tổ tiên nhà mình ở Hà Nam đã gây dựng nghề này từ bao giờ, thưa ông?

+ Nghề đóng tàu của dòng họ Lê đến cụ Lê Công Dự nhà tôi về đất này là đời thứ 11, đến tôi là đời thứ 17, các con tôi nối nghề là đời thứ 18. Còn nói lịch sử nghề đóng tàu ở đảo Hà Nam thì có từ rất sớm, cùng với quá trình quai đê lấn biển cần lập làng. Theo sử sách, từ năm 1434 nơi đây đã mở lễ hội thờ cúng ông tổ nghề đóng tàu Phong Cốc (phường Phong Cốc và phường Phong Hải ngày nay - PV) mỗi năm 2 lần vào 10-2 và 10-8 Âm lịch. Tuy nhiên, nghề này có thời kỳ đã mai một. Theo gia phả họ Lê thì vào năm Tự Đức thứ 28 (1875) cụ Lê Kỳ Đoài đã làm đơn xin được tái lập làng nghề đóng tàu và được quan đứng đầu tỉnh là Lý Yên chấp thuận và cấp đất ở xóm Đông (gần đình Cốc) để làm đền thờ phụng, tri ân tiên tổ…

- Còn với ông, ông học nghề này từ bao giờ?

+ Ngay từ khi học hết lớp 5 tôi đã chính thức được ông nội và bố truyền nghề cho. Còn anh hỏi tôi biết nghề từ khi nào thì có thể nói là từ bé tí, “đồ chơi” của tôi đã là… búa với đục rồi! Tôi nhìn ông nội mình, cha anh chú, bác mình làm mà quen. Hầu hết những người trong dòng họ chúng tôi đều dễ dàng tiếp thu nghề đóng tàu hơn là những người bên ngoài vào học. Tất nhiên, nghề nào cũng vậy, đều có những bí truyền người ngoài khó mà biết được…

- Một trong những bí truyền đó là đóng con tàu chạy ngược nước ngược gió. Ông có thể kể rõ hơn về loại tàu này?

+ Mấy con tàu đó giờ không còn mà chỉ còn mô hình là đồ thờ tự, cúng tế của gia đình tôi. Và tình cờ một lần ông Hoàng Quốc Thái, lúc đó đang làm Phó Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch qua nhà tôi chơi, thấy vậy mới đề nghị tôi phục chế con tàu theo mô hình này cho Bảo tàng Quảng Ninh. Con tàu gồm 3 vách, chạy buồm cánh dơi, có tính năng đặc biệt mà các nước lân cận cũng như ở châu Âu cũng không làm được là tiến lên phía trước ngay cả khi ngược nước và ngược gió. Tương truyền rằng, thời Ngô Quyền, Lê Hoàn và nhà Trần đã dùng loại thuyền này để đánh đuổi giặc phương Bắc. Tôi ngồi suy đoán rằng, những trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng, có lẽ cha ông ta đã chiến thắng được là nhờ con tàu chạy ngược nước này chăng? Nói thế là bởi, cha ông ta đã nhử giặc chạy vào thế trận, sau đó thì cứ ngược nước mà chạy. Trong khi tàu của giặc loay hoay xuôi chẳng được ngược nước ngược gió lại không xong thì cha ông ta phản kích trên bãi cọc cắm sẵn để mà chiến thắng. Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ, các con tàu này cũng đã góp phần vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men chi viện cho chiến trường miền Nam. Tôi còn phục chế, tái tạo 2 chiếc chải bơi cổ, 2 chiếc giể đánh cá và một thuyền lẵng đầm mang đặc thù của Quảng Yên chở lúa, chở đất đắp đê…

Nghệ nhân Lê Đức Chắn giới thiệu về quy trình con tàu chạy ngược gió.
Nghệ nhân Lê Đức Chắn giới thiệu về quy trình con tàu chạy ngược gió.

- Nhưng con tàu này có điểm gì khác trong cấu tạo mà lại chạy ngược gió được, thưa ông?

+ Nói thì dài lắm, nhưng đại loại là phải gò sát dây lèo buồm sau ở phía lái vào một bên mạn thuyền cho buồm căng lên hơi chéo góc hướng về cánh buồm phía trước đã được thả hơi chùng. Gió đập vào cánh buồm sau vốn rất căng nên bật lại đập ngược về cánh buồm trước tạo thành sức đẩy con thuyền tiến lên. Con thuyền sẽ chạy vát nghiêng về bên không có gió, tiến lên theo đường chữ “Chi” chứ không đi theo một đường thẳng. Chính tôi đã cầm lái con tàu này để cho người ta về quay phim truyền hình rồi đấy…

-  Nghe nói có lúc ông đã phải bỏ nghề để chuyển sang làm việc khác?

+ Đúng là như vậy. Sau cỡ chừng gần chục năm phát triển cơ giới hoá, tàu đóng ra nhiều quá, người đua nhau ra làm biển. Vét cạn bằng mọi cách nên cá tôm ít dần, ngư dân bán đổ bán tháo thuyền với giá rẻ. Thợ đóng tàu cũng lao đao theo. Không còn ai đặt đóng tàu nữa, tôi thất nghiệp. Chẳng lẽ tôi lại cứ ngồi chờ mà chẳng biết khi nào nghề đóng tàu được khôi phục, tôi bèn đi xin chính quyền một cái đầm nuôi cá trắm. Cá lớn nhanh nổi lên đến hoa mắt. Tưởng là thắng lớn, ai ngờ đến cuối thu sang đầu đông cá chết trắng đầm. Lại nuôi mấy trăm con dê. Dê lại gặp dịch chết. Thế là phá sản…

- Thời gian ấy chắc ông buồn lắm?

+ Sao không buồn! Thực ra tôi sinh ra là để đóng thuyền, làm các nghề khác đâu có hợp. Mà không hợp thì sao thành tài được? Nhiều bận ngồi ở đầm heo hút mà da diết nhớ nghề ông cha. Khi quay lại, cầm lại cái rìu cái búa dù phải nhịn đói, cả nhà ăn có một bữa mỗi ngày nhưng tư tưởng thoải mái, đẽo nhát rìu vẫn chắc...

- Và khi quay lại với nghề, ông làm thế nào để sống?

+ Khoảng hơn một năm sau khi chăn nuôi phá sản, cha con bảo nhau đi mua những con tàu cũ nát, tàu đã đắm để về sửa sang gia công lại. Được một thời gian thì ngư dân lại quay lại với nghề cũ bắt đầu đến hỏi chúng tôi để mua tàu. Cứ vậy trong hai năm chúng tôi trả hết nợ. Dần dần làm ăn khấm khá. Các hãng tàu du lịch đặt hàng cũng nhiều lên. Giờ đây cha con chúng tôi đã có 2 công ty và một xưởng đóng tàu, có thể đóng tàu du lịch, tàu cho ngư dân đánh bắt xa bờ với công suất từ 400 đến 1.000 mã lực…

- Ông có sợ nghề đóng tàu truyền thống không theo kịp được sự phát triển của công nghệ đóng tàu hiện đại?

+  Tất nhiên là không. Bởi vì tàu của chúng tôi cũng được cải tiến đi theo tốc độ cơ giới hoá, phù hợp với yêu cầu thời cuộc. Sau khi xem các mẫu đóng tàu hiện đại của các kỹ sư, tôi thấy không xa lạ gì. Hiện tại tàu chúng tôi xuất xưởng có thể đi câu cá ngừ đại dương tận vùng biển Trường Sa, Hoàng Sa. Còn trường hợp đối đầu với sóng gió với va đập thì nếu chưa có điều kiện về vốn liếng để bọc vỏ sắt thì phải tính đến chuyện tăng cường cấu kết bên trong vỏ gỗ cho thật chắc chắn. Phải có những khung xương sườn bằng sắt, một số khu vực va đập nhiều như mũi, sườn cần bịt sắt. Thêm nữa, lại phải lướt thật nhẹ trên sóng nước. Đóng vỏ lướt nhẹ, thoát nước nhanh. Những điều này chúng tôi đều làm được... 

- Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này. Chúc những con tàu do ông đóng ngày càng vươn xa hơn nữa ngoài biển khơi.

Huỳnh Đăng (thực hiện)

Cùng chuyên mục