Tháng 8 dương lịch. Trời chớm thu, buổi sáng tiết trời vùng Than Đông Bắc se lạnh nhưng chỉ cần mặt trời lên cỡ con sào là bắt đầu nắng, nắng chói chang, cái nắng khô gằn khiến da thịt bứt rứt khó chịu.
Con đường lên mỏ, thời điểm giao ca yên ả đôi chút là lập tức trở lại vẻ chộn rộn thường thấy của vùng công nghiệp nặng. Tiếng máy khoan, máy xúc, tiếng động cơ ô tô rồi tiếng đe, tiếng búa, tiếng sắt thép, tiếng băng than sôi réo thành một thứ đa âm kéo dài như vô tận. Một chiếc xe con lướt trên đường một chiều (đường lên mỏ) hoà nhập với nhịp điệu ồn ã của khai trường rồi nhẹ nhàng lướt xuống đường cua xoáy trôn ốc trong lòng mỏ. Xe không dừng lại, chỉ thấy vài công nhân đi ngược chiều gật đầu, họ mỉm cười thân thiện, cởi mở với ai đó trên xe. Người ngồi trên chiếc xe lướt xuống lòng moong chính là Nguyễn Văn Kiệm, ông vừa được điều động về làm Giám đốc Công ty Than Cọc Sáu mới mấy ngày. Nói là ông được hay ''bị'' đều đúng cả. Các nhà lãnh đạo thì bảo đây là chuyện luân chuyển cán bộ cần thiết khi tổ chức thấy hợp lý nhưng nói cách khác thì ông Kiệm bị xuống vì đường đường là Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Than Việt Nam, không có phốt phiếc gì lại bị điều động xuống chức! Không thì là cái gì? Nhiều người có vẻ thâm trầm, phán rằng: Ông Kiệm là người có năng lực thật và cũng là người đa mưu, khó nắm bắt lắm cho nên cũng... nhiều vấn đề phải bàn lắm! Nhưng nói gì thì nói, ông có một điểm rất đáng nể trọng! Điều này, đã làm nên cái việc đáng nói trong bài viết này - Đấy là sự đam mê! Rất dễ nhận ra. Tính ông xông xáo, gần gũi, thậm chí bỗ bã với cánh thợ thuyền, nhất là cánh thợ trẻ máy xúc, máy khoan bị ông gọi kèm theo cả tên phụ thân cũng là chuyện bình thường, họ đáp lại ông bằng một tình cảm chân thành, đầm ấm! Họ coi ông như cha, chú vì có thời ông là đồng đội chia ngọt, sẻ bùi với những bậc sinh thành ra họ!
Nguyễn Văn Kiệm và đồng đội thả khối bê tông xuống đáy moong ở độ sâu -150m trước khi hoàn nguyên, lấp đáy mỏ.
Nguyễn Văn Kiệm sinh ra và lớn lên tại huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, ông không phải tòng quân như bạn bè cùng thời, ông học giỏi và được học hành đến đầu đến đũa. Năm 1977, tốt nghiệp kỹ sư mỏ địa chất tại Liên Xô (cũ), ông có mặt tại khai trường mỏ Cọc Sáu thuộc vùng Than Cẩm Phả từ đấy. Ông kể, Vùng mỏ thời ấy hoang vu lắm! Thời còn là thanh niên, ông đã có lúc tính chuyện chuyển vùng công tác nhưng không thành nên lần lữa đến mãi bây giờ - Ông kể không giấu giếm! Có điều hồi năm 1985, ông học xong lớp Trung cấp Chính trị tại Trường Nguyễn Văn Cừ, Tỉnh uỷ có ý rút ông về Uỷ ban Kiểm tra, nhưng ông đã từ chối cơ may này vì máu nghề nghiệp đã bén rễ trong tiềm thức của ông! Để rồi, cả một đời ông lận đận với moong sâu. Ngày ấy, ông là một thanh niên trí thức đúng theo nghĩa đen, ông sống giản dị, hoà đồng và rất được việc! Ba mươi tuổi, ông đã là quản đốc một công trường trọng điểm của cái mỏ khai thác than lộ thiên lớn nhất Việt Nam bấy giờ. 34 tuổi ông đã làm Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật. Năm 1994, ông được đề bạt giữ chức Giám đốc một xí nghiệp mở rộng của Công ty Than Cẩm Phả; rồi chưa đầy một năm, ông được đề bạt làm Phó Giám đốc Công ty Than Cẩm Phả. Mấy tháng sau, ông tiếp tục được đề bạt làm Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Than Việt Nam (bây giờ là Tập đoàn TKV). Quan lộ của ông như diều gặp gió. Vậy mà, ông chững lại rồi trở về cái nơi xuất phát điểm mà ông đã rời đi gần mười năm trước. Người ta bắt đầu kháo chuyện về ông nhiều lắm! Kể cả những người hiểu ông nhất, họ đều nghĩ, ông sẽ buồn! Buồn lắm!!! Nhưng họ đã thay đổi quan điểm khi thấy ông bắt tay vào công việc.
Nhận chức xong! Việc đầu tiên, ông cần biết là khoáng sản trong đất còn được bao nhiêu và ông đã không khỏi giật mình khi nghe địa chất báo, tổng khoáng sản trong lòng mỏ, tính đến -150m còn không quá 23 triệu tấn. Như vậy, với tốc độ khai thác thời điểm ấy mới chỉ trên, dưới 2 triệu tấn than/năm thì xuống -150 so với mực nước biển, với khối lượng tài nguyên như vậy, tuổi thọ của mỏ chỉ còn khoảng mươi năm là đóng cửa. Phải làm gì! Một câu hỏi lớn đặt ra. Một cuộc luận bàn về tài nguyên trong lòng mỏ đã được đặt lên bàn để cân đong. Và ông khẳng định, ông không tin trong lòng mỏ kia chỉ còn bấy nhiêu trữ lượng khoáng sản! Thực tế bao nhiêu hả? Điều này, lệ thuộc vào công tác tổ chức khai thác của chúng ta thế nào! Công việc đối với ông tương đối thuận lợi! Về chuyên môn, ông là người hiểu khá tường tận cái lòng mỏ khổng lồ với miệng hấng nước mưa tới bốn cây số vuông này. Cũng chính ông là một trong số người ủng hộ chủ trương phải tiếp tục xuống sâu ở lòng mỏ ngay từ khi những thách thức của thiên nhiên, của môi trường, khí hậu còn chất chồng. Khi ông đang ở vị trí điều hành cao hơn, bị điều động về cơ sở đâu phải là ông không buồn nhưng công bằng mà nói, các nhà tổ chức đã quyết định là có tính chiến lược rõ ràng. Cái lòng mỏ như một lòng chảo khổng lồ này ở đâu chẳng thấy những kỷ niệm và dấu chân của ông kia chứ! Từ cái việc đưa được tầu hút bùn vào lòng mỏ để giải quyết sự cố bùn đã nhấn chìm đáy mỏ của trận mưa lớn đã phá vỡ đê ngăn nước trong lòng mỏ năm 78; 83 ở thế kỷ trước. Khi đáy mỏ mới ở độ sâu chưa đầy -60m so với mực nước biển. Bây giờ thì ông đối mặt với nó, đối mặt với những diễn biến của địa chất chưa có tài liệu nào đề cập tới, bản thiết kế của các chuyên gia Liên Xô cũ lại chỉ xuống tới -120m. Những kỷ niệm thăng trầm của một đời người, một đời thợ và cả những ký ức vui buồn tưởng đã đi vào quá vãng trở về với ông như mới hôm nào! Đồng đội của ông thuở ấy, bây giờ chẳng còn mấy nhưng ông lại có hậu thuẫn của lớp trẻ! Họ có trình độ và có cái thần thái của thời đại. Công cuộc khai sơn phá thạch không đơn giản là cuộc mưu sinh mà còn là cuộc chinh phục lòng đất. Dù không mới mẻ nhưng để đi trên chặng đường chưa có dấu chân người đâu phải là chuyện tầm phào... Phải tính toán, cân đo, phán đoán và quyết định thế nào là cả vấn đề còn nằm phía trước!? Nhưng cơ bản, ông và đồng đội ông phải chiến thắng! Ông phải là tác nhân để một bộ máy hoạt động hiệu quả ra sao? Chẳng cần bàn cãi làm gì! Yếu tố thành, bại do con người quyết định! Kết quả công việc đã khẳng định, lớp thợ già thì hết lòng, cánh thợ trẻ thì hết sức có khi chỉ bằng một lời nói, tín nhiệm và động viên họ là thành sự nghiệp! Về kỹ thuật, ông là người kỹ tính, người ta gặp ông có khi đi chán dưới lòng moong, tưởng rằng ông sẽ về! Vậy mà, ông còn nán lại ở một vài vị trí nào đấy để ngắm lại cái hành trình vừa đi qua như thể chiêm nghiệm, như để tìm ra một tỳ vết nào đó! Ông thường nói với đồng đội, cũng là để nhắc chính mình: ''Nhiều khi làm xong một việc tưởng đắc ý! Nào ngờ, tối về ngẫm lại vẫn thấy mình còn ngu lắm!''. Người ta ít thấy ông ở văn phòng, rảnh chút nào, y rằng muốn gặp ông chỉ có lên khai trường. Đối với lòng moong, ông hệt một nghệ nhân trước tác phẩm điêu khắc của mình! Ông yêu cái đẹp một cách chân thành! Có lúc, người ta thấy ông ngắm tầng mỏ không vì toan tính công việc mà là chiêm ngưỡng vẻ đẹp một kiến trúc cốt tìm ra tỳ vết ở những chỗ chưa hoàn thiện. Sự mẫn cán của ông có sức lan toả ghê gớm trong CNCB. Ông đã khởi động được ''nguồn năng lượng'' trong họ. Cuộc đọ sức với thiên nhiên trong lòng mỏ không đơn giản chỉ là mưa lầy, nắng bụi hay nắng như chan lửa, mưa như nước xối mà chỉ sơ sảy một chút là bạc tỷ đi tong, thậm chí đổi cả mạng người. Nhưng cũng không vì thế mà nhụt chí. Với ông, bất cứ một người thợ mỏ Cọc Sáu nào, đều phải tính đến chuyện xuống sâu vì đấy là cách sinh tồn duy nhất chứ không thể làm khác. Còn xuống bằng cách nào là cả một vấn đề! Đây là một con đường chẳng ai dám nghĩ tới sự bằng phẳng, không thế thì tổ chức các hội nghị bàn tới, bàn lui mãi để làm gì! Trong thâm tâm, ông thầm cảm ơn ông Đoàn Văn Kiển - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Than - Khoáng Sản Việt Nam lắm lắm!!! Ông Kiển đã đóng vai trò chính trong suốt quá trình tranh biện để Cọc Sáu tiếp tục xuống sâu và cả những năm tháng sau này, ông Kiển đã luôn sát sao với mọi biến động trong lòng mỏ. Một quy mô chinh phục độ sâu đáy mỏ đã được ông hình thành rất cụ thể. Theo quy luật tự nhiên là phải khai thác mở rộng toàn bộ khu vực phía trên rồi cuối cùng mới tập kết ở đáy mỏ nhưng nếu trình tự như vậy là cả một vấn đề hết sức nan giải! Kéo dài thời gian, sự tốn kém về đầu tư sẽ tăng gấp bội, chỉ mỗi một việc giải quyết lượng bùn hàng năm đổ xuống đáy moong là đủ thấy phức tạp và tốn kém thế nào! Muốn giải phóng bùn, trước tiên là phải bơm cạn nước moong, sau đó dùng máy xúc cuốn chiếu từng khu vực rồi chuyển tải lên xe ôtô để chở ra khỏi lòng moong! Một công đoạn khó khăn, gây tổn thất vào bậc nhất về công vận chuyển cũng như công bốc xúc. Người ta tính, xe ben vận chuyển bùn, công suất chỉ đạt 2/3 vận chuyển than hoặc đất đá, còn bốc xúc một xe bùn thời gian phải gấp đôi một xe than hoặc một xe đất. Đã vậy bùn còn không được tính vào hệ số bóc, thậm chí không cả kinh phí thanh toán. Trong khi Cọc Sáu mỗi năm phải giải quyết lượng bùn lên tới hàng trăm ngàn mét khối vẫn là con số nhỏ. Tốn kém nhưng là công đoạn bất khả kháng, khai thác được tấn than dưới đáy mỏ, phải tính toán đến cả thiên thời, địa lợi. Hòn than bóc lên từ đáy mỏ đong bằng cả mồ hôi nước mắt, thậm chí sơ sẩy một chút là đổi bằng máu người thợ! Nếu không muốn thành công cốc, trước hết phải hợp lý ngay từng công đoạn, bắt đầu thế nào và kết thúc ra sao. Hạ moong ở Cọc Sáu cũng quyết định cho mùa than năm ấy có bội thu hay không. Công việc này được bắt đầu chớm vào mùa khô năm trước lại kết thúc trước ngày cốc vũ năm sau, các công đoạn từ bơm nước, mở đường, giải quyết bùn, bóc đất, lấy than ra sao v.v... Thực sự là một liên hoàn pháp các công nghệ, buộc phải nhanh chóng, dứt khoát và cụ thể đến từng phần việc. Lực lượng bất kỳ thợ gì được điều động xuống đáy mỏ đều phải là quân tinh nhuệ. Công việc cấp bách, ngay ngày mồng một Tết Nguyên đán, lực lượng chính cũng đã xắn tay đi làm! Không thế thì đừng có tính chuyện này nọ, chỉ cần tổ chức sớm hoặc muộn hơn một chút là có thể tổn thất tính bằng bạc tỷ! Vì lẽ này, ông Kiệm đã nghiền ngẫm rồi đặt vấn đề, trao đổi cùng các cộng sự trên quan điểm thẳng thắn rất mực cầu thị. Cuối cùng, ông đã đi đến quyết định táo bạo là chỉ đạo triển khai phương án khai thác than ở đáy mỏ Cọc Sáu bằng chu trình ngược. Khi phương án này thành công, ngày 13-3-2005, ông ra quyết định chấm dứt giai đoạn một, tạm dừng khai thác than ở độ sâu 150m (so với mực nước biển). Tại tầm sâu này, ông và những đồng đội, những người thợ Cọc Sáu, những người Việt Nam đầu tiên đặt chân xuống tầm sâu -150m trong lòng đất, đã khẳng định được trình độ khai thác mỏ lộ thiên đương đại của ngành Than Việt Nam. Trước khi hoàn nguyên, lấp dấu chân mình, dấu chân của ông và đồng đội khi đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ đi tiền trạm, ông và đồng đội đã kịp đúc một khối bê tông vuông có tất cả các cạnh đều bằng 0,91m cùng với một nghi thức trang trọng, khối bê tông đã được thả xuống như một di chỉ gửi cho hậu thế! Thời gian trên ba năm, ông trở lại mỏ trực tiếp quản lý và chỉ đạo công tác xuống sâu, ông đã kinh qua ba mùa hạ moong khốc liệt của lòng mỏ. Nhất là mùa hạ moong năm 2004-2005, khi đáy mỏ thu nhỏ lại, diện tích chỉ còn vài hecta, việc bố trí thiết bị không giản đơn chút nào, không thể đánh nhanh rút gọn, thành mỏ chịu sức nén của địa chất phía trên quá lớn nhiều vị trí bị gẫy! Thậm chí bị sụt lở, phải mở liên tiếp chín đường cua gấp khúc từ -34m để xuống đáy mỏ. Đây là thời điểm cam go, phải xử lý từng chi tiết nhỏ về biến động địa chất, giải quyết giảm tải phía trên, còn dưới đáy mỏ bóc than hết chỗ nào, lập tức lấp đất hoàn nguyên. Nhà xa mà cả giai đoạn hạ moong, ông ít có điều kiện đoàn tụ với gia đình, các cán bộ kỹ thuật, cán bộ địa chất và an toàn cũng làm việc căng như dây đàn còn ba phó giám đốc thay nhau thường trực đôn đốc ba ca. Sứ mệnh hoàn tất, Cọc Sáu thực hiện công tác xuống sâu với những giải pháp chưa hề có biển chỉ đường nhưng họ đã kết thúc thắng lợi và an toàn một cách ngoạn mục! ông Kiệm như trút được gánh nặng! Có lần, ông tâm sự rất thật: ''Khai thác theo quy trình ngược là cuộc chơi hoàn toàn có hai mặt, an toàn thì có lợi lớn nhưng sơ sẩy một chút là hậu quả khó lường!”.
Rồi ông nói đùa: - Cũng may mà mọi chuyện đã an toàn!
Ông nói ''may'' nhưng thực sự đây không phải là sự ''hú hoạ''; phương án khai thác theo quy trình ngược được áp dụng có thể xem là một nghệ thuật đã được khẳng định, được coi là một cách làm khoa học và sáng tạo trong khai thác lộ thiên hiện đại ở Việt Nam. Công bằng mà nói, Nguyễn Văn Kiệm đã góp phần công sức đáng kể để quyết định vấn đề này! Ông dám nghĩ, dám đương đầu với một công việc chưa có một tài liệu nào chỉ dẫn! Nghĩa là ông đã tạo được một lối tắt, rút ngắn thời gian, giảm nhiều chi phí đường đi, tạo được thuận lợi lớn cho những năm sau và cả hành trình tiếp theo đến -255m của một lòng mỏ. Thực hiện phương án này, ông và những người thợ mỏ Cọc Sáu đã tiến hành từ mùa hạ moong năm 2002- 2003, chấm dứt ở mùa hạ moong 2004- 2005. Qua ba kì hạ moong, tóc ông trắng thêm, da sạm đi nhiều nhưng nom ông săn chắc và vững vàng lên nhiều lắm. Cũng trong thời gian này, ông đã tổ chức thăm dò, khảo sát, lập được phương án kéo dài tuổi thọ của một lòng mỏ. Nghĩa là người kế nhiệm của ông sẽ tiếp tục sự nghiệp chinh phục độ sâu trong lòng đất tới -250m, thậm chí hơn nữa nhưng trữ lượng khoáng sản, tính ở thời điểm cuối năm 2005 khi ông ra đi, lòng mỏ Cọc Sáu còn 38 triệu tấn than có khả năng khai thác. Thực hiện điều này, ngay năm 2004, ông đã chỉ đạo, lập được kế hoạch cũng như tốc độ xuống sâu ở những năm sau này cả hệ số bóc đất/tấn than ra sao! Chính vì thế, việc cho thuyên chuyển cả hai trung tâm sửa chữa lớn các loại thiết bị cũng đã được tiến hành, nhường chỗ cho việc mở rộng khai trường.
Đầu năm 2006, ông Kiệm được Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm chức vụ Uỷ viên Hội đồng Quản trị của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng Sản Việt Nam (HĐQT - TKV). Ông rời lòng moong ra đi khi đã kịp tạo dựng một bộ khung, một lực lượng khai thác kế nhiệm khá hoàn thiện trong lòng mỏ. HĐQT- TKV tiếp tục bổ nhiệm ông giữ vị trí Chủ tịch HĐQT của Công ty Than Cọc Sáu khi bước vào cổ phần hoá đầu năm 2007, nghĩa là sự nghiệp xuống sâu gắn bó với ông còn dài, dài lắm!
Mùa thu nay, nắng mưa cũng thất thường hơn mọi năm. Trên con đường dẫn xuống moong sâu, dẫu không còn cái thăm thẳm, cái hun hút của những mùa hạ moong năm trước, nhưng những người thợ mỏ Cọc Sáu, đặc biệt là Giám đốc Phạm Hồng Tài, người kế nhiệm chức trách điều hành của ông, cũng đang lần hồi, kiếm tìm từng giải pháp hiệu quả, thiết thực nhất để rút ngắn giai đoạn nhằm chinh phục độ sâu -250m trong lòng đất. Mỗi lần gặp những tình huống khó khăn, họ thường nhắc tới sự có mặt của ông trong cái lòng mỏ dữ dằn, đầy khắc nghiệt này. Và có lẽ hình bóng của ông sẽ còn mãi với lòng mỏ trên hành trình tiếp theo của người thợ mỏ Cọc Sáu.
Cẩm Phả, chớm đông 2009