Đã lâu tôi mới trở lại thăm làng nghề gốm sứ Vĩnh Hồng (Mạo Khê, Đông Triều). Những lò gốm đang đỏ lửa giữa mùa nắng nóng tháng 6 khiến tôi cảm nhận rõ hơn sinh khí một vùng đất, một làng nghề truyền thống...
Để tìm hiểu về đời sống cũng như công việc làm nghề của các hộ làm gốm sứ hiện nay ra sao, tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Đình Các, Anh hùng Lao động, nguyên Chủ nhiệm HTX Sứ cấp cao ánh Hồng lừng danh một thuở. Khoảng sân rộng nhà ông xưa vốn để rất nhiều chậu cây cảnh nay là căn nhà kiểu biệt thự vườn khá đẹp. Đó là nhà của con ông, còn ông vẫn ở căn nhà cũ với dấu vết thời gian in trên những vật dụng đã cũ kỹ. Góc nhà bày chiếc bình hoa loại to, dáng nét hoa văn do làm thủ công nhìn dễ nhận ra... Trong chiếc tủ nhỏ của gia đình, vẫn giữ khá nhiều những sản phẩm gốm sứ do bàn tay ông làm ra, như bình, ấm chén, bát hương, đỉnh hương... Đa phần những sản phẩm này là hàng lưu niệm mà sau khi (HTX) giải thể, người làng nghề gần như không còn làm nữa. Ông bảo:
- Tôi có 7 người con trai, gái cả thảy, đa số đều ở quanh đây cả. Ngày trước, với tư tưởng yêu ngành, yêu nghề gốm sứ nên các con xin đi làm nhà nước ở nghề khác, tôi đều không cho đi! Căn nhà kia là của một đứa con tôi, nhưng đã làm việc khác rồi. Nay, chúng nó chỉ còn 2 đứa theo nghề của cha ông thôi nhưng cũng vất vả lắm. Vốn liếng không có, đầu tư không lãi là bao. Tài sản thế chấp chỉ được vay 40-50 triệu đồng không ăn thua gì với cái nghề này cả. Làm nghề này cần tốt vốn lắm. Vật tư, nguyên liệu, nhà xưởng đều đầu tư lớn, còn sản phẩm làm ra cũng phải vài tháng mới bán được... Đây cũng là tình trạng chung của nhiều hộ làm gốm ở đây.
- Hiệp hội gốm sứ Đông Triều do ông là Chủ tịch, liệu có giúp được làng nghề về vốn liếng không?
+ Tổ chức Hiệp hội chưa đủ lực vươn lên để giúp cho làng nghề. Vật tư, nguyên liệu tăng giá nhưng các chủ hàng vẫn ép hạ giá thành sản phẩm vì biết các lò cần vốn, buộc phải bán ngay để quay vòng sản xuất. Từ khi HTX ánh Hồng giải thể, các hội viên quay ra mở lò riêng thì nhà nước cũng không hỗ trợ được gì, các hộ không có điều kiện để tiếp cận các nguồn vốn. Chỉ có một, hai năm gần đây, Uỷ ban DSGĐ - TE tỉnh là có hỗ trợ vài trăm triệu cho việc đào tạo mấy lớp cho các cháu tàn tật, hoàn cảnh đặc biệt. Hai lò của anh Nguyễn Văn Thắng và Công ty TNHH Quang Vinh đào tạo thì được sử dụng nguồn nhân công ấy.
- Nói như vậy, chẳng lẽ nhân công làng nghề lại thiếu ư?
+ Thiếu chứ, nhất là những người thợ lành nghề hoặc lao động kỹ thuật cao (đào tạo trung cấp, kỹ sư). Họ chuyển đi làm ở chỗ khác hoặc chuyển nghề. Một số lao động mới do chủ lò kèm cặp thì vẫn ở lại. Chủ nào không ổn định là lao động lại tìm chỗ khác. Ngay cả các cơ sở gốm ở đây cũng teo lại, như mấy năm trước trên dưới 30 cơ sở, nay chỉ còn 16 cơ sở thôi, trong đó cũng chỉ có một số cơ sở sản xuất đều...
- Nhưng dường như làng nghề của mình hơi bảo thủ trong chế tác, sản xuất gốm trong khi nhiều làng nghề khác rất năng động?
+ Thật ra, gần đây tư duy các chủ lò cũng đã có sự thay đổi nên sản phẩm gốm sứ cũng được cải tiến về mẫu mã như dáng chậu chẳng hạn, kiểu cách vẽ trang trí cũng thế, đều dựa trên cơ sở cạnh tranh... Rồi như Công ty Thắng Lan đầu tư thêm lò ga để làm hàng cao cấp, phát triển hàng lưu niệm, gốm không men, có tính mỹ thuật... Tuy vậy, truyền thống của làng nghề Vĩnh Hồng là hàng gốm to, nặng lửa vẫn tiêu thụ mạnh, các lò vẫn giữ thế mạnh này vì có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật.
- Nhưng hàng gốm sứ của Vĩnh Hồng lại không có thương hiệu, tên tuổi hình như không ghi vào sản phẩm?
+ Đúng vậy, các lò hầu như chưa chú ý đến điều này. Chỉ có người làm nghề, quen rồi, chỉ gõ, nghe tiếng kêu trong sản phẩm thì biết ngay. Không chỉ ở hàng gốm to, mà ngay ở hàng nhỏ, nung nặng lửa vẫn là điểm riêng của gốm sứ Vĩnh Hồng. Cách pha chế nguyên liệu, đổ men khi nung ở nhiệt độ thấp để hạ giá thành, người làng nghề đều biết nhưng mình vẫn giữ thế mạnh cạnh tranh ấy. Sản phẩm của Vĩnh Hồng vẫn khác theo cách của mình, bằng dáng mẫu, cách trang trí riêng và nung ở nhiệt độ cao.
- Vậy, giá thành hàng gốm của mình sẽ cao hơn các dòng gốm khác?
+ Không, vẫn giữ mức bằng hoặc thấp hơn, chung quy vì năng lực vốn hạn chế, các lò cần bán để lấy tiền ngay, nên lãi suất thấp.
- Đúng là “cái khó bó cái khôn”?
+ Đâu chỉ vậy, khó vốn liếng còn bó nhiều thứ khác. Đơn cử, mỗi đợt thay đổi mẫu hàng là cần tới vài chục triệu ngay. Người ta có vốn, nếu chưa bán được ngay thì cứ để lại, đợi dịp thuận lợi, thị trường có nhu cầu, bán vẫn có lãi. Còn mình vốn đi vay, chậm tiêu thụ, lãi đội lên thì lỗ... Hay việc nghiên cứu đưa khí than đốt thay củi cũng vậy, trước đây HTX ánh Hồng đã từng làm. Mình là đất than, than rẻ hơn nhiều chứ củi đắt kinh khủng. Nhưng muốn vậy, phải đầu tư hệ thống lò để tạo thành khí đã, đầu tư ban đầu lớn nên biết lợi mười mươi mà các lò nhỏ cũng chưa dám nghiên cứu. Rồi, việc quảng bá sản phẩm cũng vậy. Nếu các lò tập trung hàng hoá đưa đi nước ngoài triển lãm sẽ rất hiệu quả. Hàng thủ công ở nước ngoài đắt lắm chứ có rẻ như ở Việt Nam đâu. Các doanh nghiệp tỉnh ngoài đầu tư trên địa bàn mình như Công ty TNHH Quang Vinh, Công ty Cổ phần Quang và Mỹ nghệ xuất khẩu ăn là bởi cái đó. Nhưng mình đi 1 chuyến thì hết vốn, muốn xuất khẩu phải có mối quan hệ, công tác quảng bá rộng nữa...
Nhân nói về lợi ích này, cứ nhìn ngay ra các quầy trưng bày sản phẩm của các lò ở làng nghề cũng thấy nhiều điều. Những doanh nhân gốm sứ Trung Quốc theo con đường du lịch sang đây vẫn học hỏi mình đấy, về tập quán, phong tục, văn hoá của người Việt mình để đưa vào sản phẩm của họ, sau đó quay trở lại tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Họ sang tận mình kinh doanh. Trong số các quầy hàng kia, khoảng 50% là hàng của mình, còn lại là gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Trung Quốc và có riêng một gian hàng do người Trung Quốc làm chủ, gần như dành riêng cho khách du lịch Trung Quốc vào đấy. Còn sản phẩm thì hàng nội địa ta lại nhiều với những điểm mới lạ riêng, hấp dẫn. Cái anh to vốn, nó mạnh ở chỗ ấy đấy. Mình biết thiệt, biết thua mà vẫn phải chịu.
Mà nếu được đầu tư nhiều hơn thì còn phải tìm hiểu, nắm bắt thị hiếu của từng thị trường như đình chùa thì ưa vẽ rồng phượng, nhà giàu chơi cảnh ưa sơn thuỷ... để thu hút khách mua nữa...
- Sao biết vậy mà ta không làm vậy, đáp ứng nhu cầu khách?
+ Vì ngại, vì thiếu vốn, làm trăm chiếc nhưng một năm chỉ bán có 2 đợt thôi. Rồi phải đưa đi quảng bá, vốn đọng đấy. Đó là cái khó của mình. Chứ như Trung Quốc, họ sẵn sàng bỏ vốn, mang sản phẩm sang mình quảng bá, để hàng năm trời cũng không sao. Phải trường vốn mới trụ được vậy. Mình đi vay vốn khổ lắm. Thời hạn vay năm một, hết năm không trả được thành nợ quá hạn, vay trăm triệu lãi ròng hơn chục triệu/năm thì lãi từ kinh doanh sao lại được. Đó cũng là lý do làng nghề càng ngày càng teo đi, co hẹp lại. Sản phẩm của làng nghề hiện nay, một số làm cho xuất khẩu thì được một chút, còn bán trong nước thì phải qua trung gian là các doanh nghiệp của Hà Nội. Thương hiệu cũng vậy, mình phải mượn tên của họ để tiêu thụ. Làng nghề nhiều năm nay chịu cảnh cá lớn nuốt cá bé như vậy.
Bước vào cơ chế thị trường, làng nghề gốm sứ Vĩnh Hồng vẫn chưa qua cơn mạt vận, gương mặt người làng nghề còn hằn nhiều nét nhọc nhằn. Gặp, trò chuyện cùng ông Nguyễn Đình Các, tôi càng thấm thía hơn điều đó. Nén một tiếng thở dài, tôi chỉ biết hy vọng, những luồng gió mới về đầu tư đang thổi vào mảnh đất Đông Triều này cùng cơ chế của nhà nước sẽ tạo điều kiện thông thoáng hơn trong việc hỗ trợ người làng nghề... Để người làng nghề vơi bớt nỗi vất vả, sống được với nghề, gìn giữ cho Quảng Ninh một nghề truyền thống với nét độc đáo riêng...