“Cải tạo, phục hồi môi trường vùng than không đơn giản, nhưng đó là trách nhiệm của chúng tôi”

- Thưa ông, cách đây đúng 1 năm, TKV đã hoàn toàn chấm dứt việc chuyên chở than trên quốc lộ 18A. Đây được xem là một trong những động thái mở đầu cho kế hoạch kéo dài từ 2007 đến 2015 về cải tạo, phục hồi và bảo vệ môi trường vùng than của TKV. Thế còn trong thời gian tới thì thế nào?... (Trao đổi với ông TRẦN MIÊN, Trưởng Ban Môi trường, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam)

>> Quyết liệt trong xử lý, phục hồi môi trường vùng than

“Cải tạo, phục hồi môi trường vùng than không đơn giản, nhưng đó là trách nhiệm của chúng tôi” ảnh 1+ Có thể nói năm 2007 là năm đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường vùng than Quảng Ninh. Tháng 10 năm 2007, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã tổ chức Hội nghị chuyên đề về bảo vệ môi trường vùng than Quảng Ninh dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Tổng Giám đốc Tập đoàn. Chúng tôi vẫn nói vui với nhau rằng đây là ''Hội nghị Diên Hồng'' về bảo vệ môi trường của Tập đoàn vì chúng tôi ''đóng cửa'' để nói với nhau cho thật kỹ, thật rõ, thật thẳng thắn trách nhiệm, lương tâm đối với môi trường vùng than. Từ Hội nghị này, chúng tôi đã xây dựng chiến lược về bảo vệ môi trường của ngành Than với mục tiêu đến năm 2010 sẽ cải thiện một cách rõ rệt chất lượng môi trường các mỏ than, đến năm 2020 sẽ giải quyết triệt để vấn đề môi trường vùng than.

Việc đầu tiên chúng tôi tập trung giải quyết là vấn đề xử lý bụi sinh ra trong quá trình khai thác và vận chuyển than, nhất là các tuyến đường QL18A, tỉnh lộ và đường qua các khu dân cư. TKV đã tiến hành xây dựng một hệ thống đường chuyên dùng để chuyên chở than, đất đá tách hẳn khỏi QL18A và tỉnh lộ 337. Cho đến nay, nhiều tuyến đường chuyên dùng đã được hình thành và đưa vào sử dụng. Vùng Đông Triều - Mạo Khê có tuyến đường từ mỏ Mạo Khê ra cảng Bến Cân, đồng thời đoạn đường từ QL18A ra cảng Bến Đụn đã được sửa chữa, nâng cấp mặt đường. Vùng Uông Bí có tuyến đường từ mỏ Vàng Danh ra cảng Điền Công, tuyến đường vào mỏ Khe Chuối - Hồ Thiên, đường từ nhà sàng Tràng Khê ra QL18A. Vùng Hòn Gai có tuyến đường từ Núi Béo ra cảng Nam Cầu Trắng, hiện tại đang thi công tuyến đường từ mỏ Hà Tu - Hà Lầm ra cảng Làng Khánh. Vùng Cẩm Phả có các tuyến đường chuyên dùng từ Bàng Nâu - Cọc Sáu ra cảng Khe Dây đã đưa vào vận hành từ cuối năm 2007, đường từ mỏ Cọc Sáu ra cảng cầu 20, từ Trung tâm Ngã Hai ra đường 86 về cảng Km6, đường từ Lộ Trí - Thống Nhất nối với đường chân đê Nam Đèo Nai... Với các tuyến đường này, than từ các mỏ Đèo Nai, Cọc Sáu, XN 91, Cao Sơn, Bàng Nâu, Khe Chàm... sẽ không còn chạy trên QL18A và hạn chế đi qua các khu dân cư. Bên cạnh đường bộ, Tập đoàn sẽ tăng cường đầu tư cải tạo, nâng cấp các tuyến đường sắt, hệ thống băng tải chuyên chở than và xây dựng các xilo chứa than tại cảng để hạn chế và tiến tới chấm dứt vận tải than bằng đường bộ, giải tỏa các bến bãi ở các cảng để đến năm 2020 sẽ trả lại cảnh quan cho bờ Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Tại Mạo Khê, Tập đoàn đã khởi công tuyến băng tải ống Mạo Khê - Bến Cân đang với vốn đầu tư trên 500 tỷ đồng. Ở Hạ Long, sẽ có một tuyến băng tải đưa than vào Nhà máy CP Nhiệt điện Quảng Ninh. Tại Uông Bí, tuyến đường sắt Vàng Danh - điện Uông Bí sẽ được nâng gấp đôi công suất. Tại đây cũng dự kiến sẽ có thêm một tuyến băng tải ống đưa than về Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí. Như vậy, với những dự án này, trong giai đoạn 2008- 2010 và sau 2012 sẽ có một loạt các công trình đường bộ, đường sắt, đường băng tải chuyên chở than. Như vậy, sẽ hạn chế cơ bản vấn đề ô nhiễm bụi cho các khu dân cư...

- Như ông biết là các bãi thải cao luôn chứa đựng hiểm họa sự cố môi trường và phản cảm về cảnh quan. Mà ở Quảng Ninh, kiểu đổ thải bãi thải cao là phổ biến. Suy nghĩ của ông về điều này như thế nào? Nó được đặt ở chỗ nào trong lộ trình cải tạo môi trường của TKV?

+ Công nghệ đổ thải dạng bãi thải cao, theo như chị nói, là công nghệ đã được áp dụng từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, đã tạo ra những núi đất đá thải cao hàng trăm mét, rất dễ sạt, trượt lở gây mất an toàn cho các khu dân cư và các công trình hạ tầng dưới chân hoặc khu vực hạ lưu bãi thải. Có một đặc điểm do lịch sử là dưới những ''núi thải'' này lại hình thành các cụm dân cư, thường rất đông dân cư sinh sống. Như tôi biết, kiểu đổ thải này tại các nước có nền công nghiệp khai thác mỏ phát triển đã không còn được áp dụng. Đối với họ, trong một dự án khai thác mỏ, họ phải tính ngay từ ban đầu diện tích và lựa chọn không gian đổ thải đủ cho cả đời mỏ. Khi tiến hành đổ thải, họ thực hiện theo qui trình đổ thải phân tầng, tức là tạo ngay ranh giới biên của bãi thải rồi đổ theo trình tự giật lùi từ phía ngoài vào phía trong và đi từ thấp lên cao. Khi đổ lên tầng trên thì họ tiến hành trồng cây, phủ thảm thực vật để phục hồi môi trường ngay cho tầng thải bên dưới vừa kết thúc. Còn ở ta, đổ thải bãi thải cao là qui trình ngược lại với họ. Cứ theo công nghệ đổ thải bãi thải cao thì vấn đề cải tạo, phục hồi môi trường chỉ có thể thực hiện được khi kết thúc đổ thải tại bãi thải đó. Và như thế, các nguy cơ ô nhiễm sẽ tồn tại theo suốt đời bãi thải cho đến khi kết thúc đổ thải. Để xử lý các bãi thải cao, chúng tôi phải thực hiện cắt tầng, hạ thấp độ cao, xây dựng hệ thống thu gom nước và trồng cây, phủ thảm thực vật. Hai bãi thải cao mà Tập đoàn TKV tiến hành cải tạo ngay từ cuối năm 2007 là bãi thải Chính Bắc - Công ty CP Than Núi Béo và bãi thải Nam Lộ Phong - Công ty CP Than Hà Tu ở TP Hạ Long. Bãi thải Chính Bắc đã được hạ độ cao từ +271m xuống +216m, được san cắt thành các tầng có chiều cao khoảng 30-50m, đồng thời trồng cỏ vetiver để giữ ổn định sườn bãi thải và trồng cây trên mặt tầng. Tại vùng Đông Triều - Mạo Khê, bãi thải lộ vỉa 46 - Công ty Than Hồng Thái cũng đã được cải tạo với việc xây dựng các đập chắn chân bãi thải và trồng cỏ vetiver trên toàn bộ sườn bãi thải. Tại vùng Cẩm Phả, Tập đoàn TKV cũng vừa phê duyệt phương hướng kỹ thuật cho dự án Cải tạo tổng thể cảnh quan môi trường khu Khe Sim - Lộ Trí - Mông Gioăng, dự án này theo kế hoạch sẽ kết thúc vào năm 2014. Bãi thải Khe Rè - Công ty CP Than Cọc Sáu, chắc chị còn nhớ là tại bãi thải này đã xảy ra tụt lở bãi thải gây sự cố môi trường lớn vào cuối tháng 6-2006, cũng đang được san cắt tầng và sẽ kết thúc việc cải tạo cũng vào năm 2014. Trong kế hoạch của chúng tôi, tất cả những bãi thải cao đều sẽ được hạ thấp độ cao và cải tạo. Đồng thời, về công nghệ và kỹ thuật, Tập đoàn sẽ thực hiện đổ thải theo qui trình bãi thải phân tầng như ở các nước công nghiệp phát triển đã áp dụng đối với các dự án mỏ mới.

Thế nhưng, trong phục hồi, bảo vệ môi trường vùng than, bụi và bãi thải chưa phải là khó xử lý nhất mà chúng tôi thấy khó là xử lý nước thải mỏ. Khó là vì thứ nhất, vấn đề xử lý nước thải mỏ hoàn toàn mới đối với ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam nói chung và TKV nói riêng. Chúng ta chưa có tiền lệ để học tập mà hoàn toàn tự thân vận động trên cơ sở kiến thức, kinh nghiệm học hỏi của các nước khác. Thứ hai, là vấn đề lựa chọn công suất hợp lý đối với các dự án xử lý nước thải. Điều rất đặc biệt trong xử lý nước thải mỏ ở Việt Nam, nhất là các mỏ lộ thiên, là khối lượng và đặc tính nước thải biến động rất lớn giữa hai mùa mưa và khô, thậm chí trái ngược hẳn nhau. Nước thải mỏ than Quảng Ninh có tính axít vào mùa khô nhưng trung tính vào mùa mưa, có hàm lượng cặn lơ lửng rất cao vào mùa mưa nhưng lại rất thấp vào mùa khô, lại có dầu nên tạo độ nhớt cao gây chậm lắng đọng. Vào mùa mưa, khối lượng nước cần xử lý tăng hàng chục lần so với mùa khô. Bởi vậy việc lựa chọn công suất xử lý hợp lý là bài toán khó chứ công nghệ khó cũng có bài giải vì vấn đề lựa chọn công suất hợp lý có liên quan đến vốn đầu tư và hiệu quả công trình. Tập đoàn TKV đã hợp tác với một Tập đoàn của Trung Quốc để xây dựng dự án xử lý nước thải mỏ Cọc Sáu là nước thải mỏ lộ thiên và với Hiệp hội Nghiên cứu Khai thác Mỏ và Môi trường (RAME) của CHLB Đức để xây dựng dự án xử lý nước thải mỏ Vàng Danh là nước thải mỏ hầm lò. Đây là hai dự án có tính chất điển hình về công nghệ, để chúng tôi học hỏi và ứng dụng. Còn bản thân Tập đoàn chúng tôi đã có kế hoạch xây dựng khoảng hơn chục trạm xử lý nước thải nữa cho các mỏ hầm lò và sẽ thực hiện trong năm 2009-2010.

- Để đầu tư cho những dự án cải tạo, phục hồi môi trường vùng than như ông nói ở trên thì chắc hẳn sẽ tốn một khoản tiền rất lớn?

+ Vâng, đúng vậy. Con số ước tính lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Bởi vì, Tập đoàn TKV hiện nay không chỉ lo giải quyết xử lý môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất hiện tại mà còn phải giải quyết hậu quả để lại của cả một quá trình khai thác than trong suốt mấy chục năm qua. Tuy nhiên, TKV sẽ gánh vác trọng trách này chứ không trốn tránh, không đùn đẩy với tinh thần là những người kế thừa và quản lý hiện tại. Cải tạo, phục hồi môi trường vùng than Quảng Ninh không đơn giản nhưng trước hết, đó là trách nhiệm của chúng tôi.

- Xin cảm ơn ông!

Cùng chuyên mục