LTS: Ngày 5-8-1964 đã diễn ra một sự kiện lịch sử không bao giờ quên đối với quân dân cả nước nói chung, với tỉnh Quảng Ninh nói riêng, đó là lần đầu tiên chúng ta phải đối mặt và đã làm nên chiến thắng trận đầu oanh liệt trong cuộc leo thang phá hoại của đế quốc Mỹ ngay trên vùng trời, vùng biển Hạ Long. Làm nên chiến thắng oanh liệt này, các đơn vị bộ đội Hải quân có mặt tại Quảng Ninh ngày ấy đã đóng góp một phần rất quan trọng...
Nhân kỷ niệm 47 năm Chiến thắng trận đầu lịch sử, 5-8 (1964-2011), QNCT xin gửi tới bạn đọc ghi chép của tác giả Phạm Hùng, ông nguyên là PV Đài PTTH Quảng Ninh, một cựu chiến binh hải quân từng sống và chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy...
Kỳ I: Đồng đội tôi ở Vạn Hoa hồi ấy
Kết thúc khóa huấn luyện tân binh ở Thủy Nguyên (Hải Phòng) vào mùa hè 1963, tôi được điều về làm văn thư bảo mật tại Tiểu đoàn phóng lôi 135 Hải quân, được trang bị một khẩu súng ngắn để bảo vệ tài liệu và được sinh hoạt chung với khối sĩ quan ở tiểu đoàn bộ. Những năm tháng ấy, Quân cảng Vạn Hoa thuộc quần đảo Cái Bầu, tỉnh Quảng Ninh là tổ ấm của chúng tôi. Nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng hình ảnh Quân cảng và những kỷ niệm sâu sắc về đồng đội vẫn như còn nguyên vẹn đến bây giờ.
Ông Phạm Hùng (ngoài cùng bên phải) trong lễ ra mắt Ban liên lạc các CCB Hải quân ở TP Hạ Long.
Vạn Hoa là một địa điểm khá lý tưởng về bến bãi ra vào, neo đậu của tàu thuyền, bờ biển sâu, trong xanh và kín gió. Nguồn lợi hải sản ở đây phong phú đến mức chỉ một tối đốt đuốc đi soi ven bờ, chúng tôi cũng kiếm được đầy xuồng cua, ghẹ, hải sâm, mực ống… Ốc biển thì đủ loại, không ai thèm ăn những thứ ốc vớ vẩn. Ngày trở gió, từng bầy sứa xòe ô bơi đi như trẩy hội. Bây giờ sứa thành đặc sản, nhưng ngày ấy chúng tôi không mấy ai để ý đến loại thực phẩm này. Chế độ ăn và bồi dưỡng của lính phóng lôi khá cao, gấp 3 lần so với bộ binh, tiêu chuẩn đường, sữa, xà phòng dùng không hết. Thỉnh thoảng anh em lại gói gém gửi về cho người thân và gia đình...
Là hải đảo nhưng Vạn Hoa tràn trề nguồn nước ngọt. Trong nước có hàm lượng hóa chất gì không biết mà mỗi lần tắm giặt tốn rất ít xà phòng, trang phục giặt giũ xong là thơm tho sạch bóng ngay. Quân cảng có sân bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ. Ở những vị trí đẹp nhất trên đảo vẫn còn tồn tại một số căn nhà kiến trúc từ thời Tây, trong đó có cả của chủ Pháp và tướng phỉ Voòng A Sáng. Là lính phóng lôi, chúng tôi không phải ăn nghỉ dưới tàu mà anh em đều được ở trong ngôi nhà gạch 2 tầng mới xây rất khang trang.
Ưu việt của tàu phóng lôi là tốc độ có thể đạt tới 54 hải lý/giờ. Những buổi tập trận chung với các loại tàu chiến khác, khi kết thúc về bờ, lính phóng lôi ngủ đẫy giấc mới thấy các đơn vị bạn lò dò cập cảng. Nói về văn hóa của tiểu đoàn ngày ấy thì hầu hết là lớp chiến sĩ nghĩa vụ, có trình độ phổ thông cấp 2, là học sinh tốt nghiệp cấp 3 như tôi không nhiều. Trong hàng ngũ sĩ quan có 2 thế hệ gối nhau: Lớp chống Pháp hầu hết là cán bộ tiểu đoàn và các phân đội trưởng, còn lại đều nhập ngũ sau Hiệp định Giơ-ne 1954 và đều được học hỏi kỹ, chiến thuật tàu phóng lôi ở nước ngoài. 50 năm là một chặng đường dài nhưng hình ảnh của từng người vẫn in đậm dấu ấn trong tôi. Tiểu đoàn trưởng Lê Duy Khoái, quê Hải Dương, có nước da đen bóng như người từ châu Phi tới. Anh từng là chiến sĩ Điện Biên, được tặng Huân chương Chiến công trong một trường hợp khá kỳ cục, vì tình cờ đi vệ sinh mà bắt sống được lính giặc. Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Bá Minh mái đầu bạc trắng, vui tính như tuổi trẻ, buổi sinh hoạt văn nghệ nào ông cũng mở đầu bài dân ca "Con gà rừng", vừa véo von hát, vừa múa tay như văn công. Tham mưu trưởng Ngô Lai có tướng ngũ đoản, chân vòng kiềng, đi chữ bát, nhưng rất ham mê môn bóng rổ. Tôi quên mất ông người vùng quê nào, chỉ nhớ như in ông là một sĩ quan thông minh, hóm hỉnh, chỉ thích ôm hôn chiến sĩ như ôm hôn người yêu của mình.
Phân đội 3 tàu phóng lôi (333-336-339) Tiểu đoàn 135 Hải quân đang tấn công tàu khu trục Ma-đốc (Mỹ - 731) khi chúng xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam.
Ảnh: TL
Trong hàng ngũ sĩ quan tiểu đoàn 135 ngày ấy có một người đến nay vẫn được anh em bàn luận nhiều. Đó là Tiểu đoàn phó Trần Bảo, ông có dáng vẻ thư sinh với đôi mắt sáng và đôi tai như mọc lệch nhau. Trần Bảo từng là quân báo trong bộ đội thời chống Pháp, thông thạo cả ba ngoại ngữ: Anh, Pháp, Trung văn. Vào những lúc rảnh rỗi, ông không chơi thể thao như anh em chúng tôi mà chỉ say mê lắp máy ga-len để thu sóng phát thanh. Lớp sĩ quan miền Nam tập kết cũng có một số khá đông. Người để lại trong tôi nhiều kỷ niệm là chính trị viên phân đội Mai Bá Xây. Ông vốn sinh ra trong một gia đình có thành phần rất cơ bản ở miền quê sông Vàm Cỏ, là hậu duệ một dòng họ có truyền thống yêu nước chống Pháp được cả tỉnh Long An ghi nhận. Chúng tôi yêu mến ông vì lúc nào ông cũng ân cần, rủ rỉ, đằm thắm, thích uống rượu với nhái nấu dọc mùng, thích chơi cờ tướng với lính và rất sành nước cờ "pháo thụt". Chính ông cùng với Tiểu đoàn trưởng Lê Duy Khoái, phân đội trưởng Nguyễn Xuân Bột, thuyền trưởng Nguyễn Văn Giản là những cảm tử quân của biển trong trận hải chiến ngày 2-8-1964 đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ, làm nên chiến công đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam. Tuổi trẻ Quảng Ninh cũng rất tự hào được đóng góp vào chiến công này 2 chiến sĩ mới nhập ngũ, là quân sĩ cờ tay Nguyễn Văn Ngồng, quê Mạo Khê (Đông Triều) và Hoàng Văn Minh, quê ở xã đảo Hà Nam (Yên Hưng).
Một vinh dự lớn cho tiểu đoàn 135 là thuyền trưởng Nguyễn Văn Giản ngày 2-9-1964 được thay mặt anh em lên Thủ đô Hà Nội dự Lễ Quốc khánh và được gặp Bác Hồ, được đứng trên lễ đài cùng với đại diện của Quân chủng Phòng không - Không quân có thành tích bắn rơi máy bay Mỹ trong ngày 5-8. Lại nói tiếp về đội ngũ sĩ quan 135 ngày ấy, còn phải kể đến nhiều gương mặt tiêu biểu, đảm nhận các nghiệp vụ kỹ thuật về ngư lôi, súng pháo, ra-đa, báo vụ, hàng hải. Các anh từ nhiều vùng quê hội tụ về đây và đều nhiệt huyết đóng góp vào thành quả chung xây dựng đơn vị...
Những kỷ niệm về các lớp chiến sĩ thì nhiều vô kể, anh chàng nào cũng khỏe mạnh, đẹp trai, tháo vát, lắm cá tính và cũng có khá nhiều năng khiếu. Hồ Đỏ, người gốc Quảng Bình, là tay vợt bóng bàn có hạng trong Quân chủng. Bùi Thượng Tĩnh là chàng trai Hà Nội vừa giỏi nghiệp vụ ra-đa lại có giọng hát hay như ca sĩ chuyên nghiệp. Hà Duy Việt tốt nghiệp phổ thông cấp 3 ở trường Thái Phiên (Hải Phòng), là tay chơi cờ tướng giỏi nhất, thừa hưởng gen di truyền của bố mẹ từng là một cặp cờ người trong các lễ hội ở vùng quê Thái Bình. Ngô Doãn Dũng, cũng dân Thủ đô, là chiến sĩ cơ điện, tay cầm cờ-lê, mỏ-lết mà rất mềm mại nhảy múa trên các phím đàn ghi-ta. Tôi thì say mê sáng tác văn học, được in một số bài thơ trên tạp chí Văn nghệ quân đội. Nguyễn Phùng Hưng là cầu thủ bóng rổ nổi tiếng, sau này vào trường sĩ quan đi khắp nơi, quân hàm thăng tiến tới cấp đại tá, lúc chuyển ngành làm Phó ban Cơ yếu Chính phủ (một chức vụ tương đương thứ trưởng). Vậy mà nhiều năm sau chúng tôi gặp nhau vẫn mày tao thân mật, cùng đồng cảm và chia sẻ vui buồn với nhau. Và tôi ngẫm ra, hình như "lá số tử vi" của chúng tôi không ai giống ai, nó dẫn dắt mỗi người đi theo những bước đường khác nhau sau đó. Chỉ có điều, tất cả chúng tôi đều giống nhau, ấy là luôn giữ trong tim mình ngọn lửa "Cảm tử quân", vốn đã cháy lên từ những ngày Chiến thắng trận đầu cách nay tròn 47 năm về trước...
(Còn nữa)