Ra đời cùng với sự hình thành của ngành Dân số - KHHGĐ (nay là DS,GĐ&TE), gần 15 năm, đội ngũ cộng tác viên DS,GĐ&TE đã làm việc bằng sự tận tụy, trách nhiệm và lòng nhiệt tình.
Họ chính là hững người “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”. Họ có mặt ở những thôn, bản sâu và xa nhất hay những hòn đảo hẻo lánh, xa xôi. Và để có được kết quả của công tác Dân số như ngày hôm nay, không chỉ “người trong nhà” mà ngay chính các cấp ủy, chính quyền địa phương đều khẳng định, có công sức đóng góp không nhỏ của đội ngũ cộng tác viên. Tuy nhiên, khi nhìn lại chế độ ưu đãi đối với một lực lượng nòng cốt như vậy ở cơ sở, quả thực, không tránh khỏi những ánh chạnh.
Theo số liệu thống kê của ngành DSGĐ&TE hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 1.850 cộng tác viên DSGĐ&TE. Trong đó, Đông Triều là địa phương có số lượng cộng tác viên đông nhất trên 200 người. Cô Tô là địa phương có số lượng cộng tác viên ít nhất, 27 người. Đội ngũ cộng tác viên được bố trí theo địa bàn các phường, xã; thông thường mỗi cộng tác viên đảm nhiệm một thôn, khe, bản, khu, xóm... song cũng có nơi một cộng tác viên phải phụ trách đến 2 khu dân cư. Thực tế cho thấy, đội ngũ cộng tác viên DSGĐ&TE thường tham gia kiêm nhiệm ở các lĩnh vực khác như Y tế, Phụ nữ hay là trưởng thôn, bản... Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, việc bố trí các cộng tác viên kiêm nhiệm hay lồng ghép với các chức danh khác không chỉ nhằm mục đích tăng thêm phụ cấp mà còn tạo thuận lợi trong việc lồng ghép mục tiêu công tác DSGĐ&TE vào các chương trình khác của địa phương. Kể từ khi được thành lập (năm 1993) cho đến năm 2001, đội ngũ cộng tác viên chỉ thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực Dân số - KHHGĐ. Song từ giữa năm 2001 đến nay, sau khi 2 cơ quan là Dân số - KHHGĐ và Ủy ban bảo vệ, chăm sóc trẻ em hợp nhất, đội ngũ cộng tác viên không chỉ “gánh” thêm nhiệm vụ ở lĩnh vực trẻ em mà còn thực hiện cả công việc của lĩnh vực gia đình theo chức năng của cơ quan mới là Ủy ban DSGĐ&TE. Song, nghịch lý ở chỗ, công việc mà mỗi cộng tác viên phải đảm trách nặng nề thêm thì nguồn phụ cấp ít ỏi mà họ được hưởng vẫn không thay đổi, vẫn là 25 nghìn đồng/người/tháng. Số tiền này được chi từ chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số - KHHGĐ. Và, mãi đến đầu năm 2006, mức phụ cấp này mớinhích lên con số 50 nghìn đồng/người/ tháng cho các cộng tác viên ở vùng cao; 40 nghìn đồng/người/tháng cho các cộng tác viên vùng đồng bằng.
Trước thực trạng trên, năm 2005 ngành DSGĐ&TE đã chủ động báo cáo, đề xuất với tỉnh về phương án nâng mức hỗ trợ cho cộng tác viên với mức cũng rất khiêm tốn. Đó là, phấn đấu có phụ cấp bằng đội ngũ làm công tác y tế thôn bản. Mức hỗ trợ thêm bằng nguồn kinh phí của tỉnh được đề xuất như sau, 60 nghìn đồng/người/tháng đối với cộng tác viên ở thôn, khe, bản, vùng cao, hải đảo và 40 nghìn đồng/người/tháng đối với cộng tác viên vùng đô thị, đồng bằng. Vấn đề này đã được đưa ra xem xét ở kỳ họp thứ 8, HĐND tỉnh khóa XI song mới dừng lại ở việc bàn bạc, chưa thông qua. Trước khi diễn ra kỳ họp thứ 9 vừa qua của HĐND tỉnh, một lần nữa, ngành DSGĐ&TE tiếp tục đề xuất với tỉnh về việc hỗ trợ cho các cộng tác viên. Tại lần đề xuất này, mức hỗ trợ được xác định đồng đều khoảng 50 nghìn đồng/người/tháng. Tuy nhiên, điều mà gần 2.000 cộng tác viên DSGĐ&TE đang nóng lòng mong chờ chưa được đưa ra tại kỳ họp vừa qua của HĐND tỉnh. Điều đó đồng nghĩa với việc, họ sẽ phải tiếp tục chờ đợi.
Thật khó hình dung, trong bối cảnh giá cả thị trường liên tục biến động, mức lương tối thiểu của những người hưởng lương từ ngân sách cũng được điều chỉnh nhiều lần thì có một đội ngũ chỉ biết lấy nhiệt tình làm động lực hoàn thành nhiệm vụ. Không ít lần, tôi đã được nghe câu chuyện của những cộng tác viên ở thôn, bản sau nhiều giờ đi bộ để đến trung tâm xã, rồi mất vài chuc nghìn tiền xe ôm từ xã xuống huyện để họp giao ban hay tham gia các lớp tập huấn. Vâng, số phụ cấp ít ỏi mà các cộng tác viên đang hưởng quả thực chỉ đủ cho một chuyến công tác đường xa. Trong khi đó, khối lượng công việc mà họ đang gánh vác không nhỏ. Điều này cho thấy, nếu không kịp thời có chính sách cụ thể, các cộng tác viên không thể yên tâm công tác. Hậu quả tất yếu sẽ là sự thiếu bền vững trong việc duy trì kết quả của công tác DSGĐ&TE.
Bên cạnh việc làm thế nào để “có thực mới vực được đạo”, thì bấy lâu nay, một “lỗ hổng” nữa trong đội ngũ cộng tác viên cũng chưa được quan tâm xác đáng. Theo số liệu điều tra của Ủy ban DSGĐ&TE tỉnh tại thời điểm năm 2005 trình độ văn hóa cũng như chuyên môn của các cộng tác viên không đồng đều, có sự chênh lệch giữa các vùng miền. Về trình độ văn hóa: Cấp I có 241 người, chiếm tỷ lệ 13,1%; cấp II 955 người, chiếm tỷ lệ 52%; cấp III có 626 người, chiếm tỷ lệ 34,1%. Về chuyên môn, trình độ sơ cấp là 133 người, chiếm 7,2%; trung cấp có 290 người, chiếm 15,8%; đại học, cao đẳng có 32 người, chiếm 1,7%. Điểm đáng lưu ý là các cộng tác viên ở các huyện miền núi có trình độ văn hóa, chuyên môn thấp lại chiếm tỷ lệ cao như Ba Chẽ 67,5%, Bình Liêu 47,96%, Tiên Yên 29,2%... Có thể thấy, đây là một “nghịch lý” cần sớm có giải pháp khắc phục. Chúng ta đều biết, tình trạng đói nghèo do đông con tập trung ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa mà đối tượng chủ yếu là bà con dân tộc thiểu số. Như vậy, để làm chuyển biến nhận thức của người dân không chỉ trong việc thực hiện chính sách DSGĐ&TE mà còn phải hướng dẫn cách thức làm ăn, xóa bỏ tập tục lạc hậu, làm quen phương thức sản xuát tiên tiến thì rất cần một đội ngũ cộng tác viên có trình độ. Không chỉ vậy, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước dành cho công tác DSGĐ&TE trong nhiều năm qua thể hiện qua hàng loạt văn bản, chính sách cụ thể đòi hỏi mỗi cộng tác viên phải có khả năng nắm bắt tốt, hiểu kỹ, biết sâu để truyền đạt hiệu quả. Như vậy, cùng với ngành DSGĐ&TE, các cấp ủy đảng, chính quyền và một số ngành chức năng cần tạo điều kiện để đội ngũ cộng tác viên được học tập, nâng cao trình độ. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi đích của lĩnh vực DSGĐ&TE được đặt ra với mục tiêu “Nâng cao chất lượng dân số” thì thiết nghĩ, trước tiên cần phải nâng cao chất lượng cho chính đội ngũ cộng tác viên, những người gắn bó và sâu sát với cơ sở nhất.