Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, ngày 4/8, Quốc hội tiến hành thảo luận ở tổ về các dự án: Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); Luật Dầu khí (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Phát biểu tại phiên thảo luận sáng 4/8, đại biểu Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, Tổ trưởng Tổ thảo luận cơ bản thống nhất với các dự thảo luật, đồng thời đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm tính khả thi, rõ trách nhiệm và phù hợp thực tiễn.
Đối với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời bảo đảm nguồn lực, biên chế, kinh phí để cấp xã thực hiện tốt nhiệm vụ. Đại biểu đặc biệt lưu ý cần mở rộng khái niệm “người có uy tín” trong đồng bào dân tộc thiểu số, không nên chỉ giới hạn ở già làng, trưởng bản; bởi người có uy tín có thể là những người thuộc nhiều độ tuổi, nghề nghiệp, vị trí xã hội khác nhau và có ảnh hưởng trong cộng đồng. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng cần tính đến vai trò của luật tục và các thiết chế xã hội đã hình thành từ lâu đời trong cộng đồng dân cư.
Đối với Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, đại biểu đề nghị làm rõ khái niệm “hủy diệt hàng loạt”, bảo đảm cách hiểu thống nhất, chính xác trong quá trình áp dụng. Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các cơ quan liên quan như Hải quan, Khoa học và Công nghệ, Công thương, Ngân hàng..., tránh chồng chéo trong quản lý. Đại biểu cũng đề nghị đánh giá kỹ tác động của các biện pháp kiểm soát đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp; bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện, bồi thường khi áp dụng biện pháp kiểm soát trái pháp luật, đồng thời tránh tạo thêm gánh nặng tuân thủ hoặc khoảng trống pháp lý.
Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật về quân sự, quốc phòng, đại biểu đề nghị tính toán kỹ tính đồng bộ của các quy định, nhất là tổ chức, biên chế và năng lực thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã. Việc bố trí lực lượng phải căn cứ quy mô, tính chất, đặc điểm từng địa bàn; có sự khác biệt phù hợp giữa đô thị, miền núi, hải đảo, vùng dân tộc, tránh tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, gây lãng phí nguồn lực. Cùng với đó, cần làm rõ chế độ, chính sách, phụ cấp, mối quan hệ công tác của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã và lộ trình triển khai, bảo đảm mô hình mới vận hành ổn định, hiệu quả.
Đại biểu cũng lưu ý việc bố trí trụ sở, cơ sở vật chất của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã phải gần dân, thuận lợi cho người dân, đồng thời ưu tiên tận dụng cơ sở hiện có, hạn chế đầu tư xây dựng mới khi chưa thật sự cần thiết. Việc tổ chức lực lượng cần được tính toán khoa học, phù hợp với yêu cầu thực tế, tập trung nguồn lực cho các đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tránh dàn trải, lãng phí.
Phát biểu thảo luận đối với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, đại biểu Trần Thị Kim Nhung, đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đánh giá cao việc dự thảo chuyển từ đánh giá hoạt động tuyên truyền theo số lượng, đầu ra sang chú trọng hiệu quả thực chất, gắn với mức độ tiếp cận pháp luật và sự hài lòng của người dân. Đại biểu nhấn mạnh, công tác tổ chức thực thi có vai trò quyết định, cần lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp từng nhóm đối tượng, địa bàn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đại biểu đặc biệt quan tâm quy định mới về truyền thông chính sách, cho rằng đây là giải pháp giúp người dân tiếp cận, phản hồi ngay từ quá trình xây dựng chính sách. Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, bảo đảm thông tin đưa ra phải thận trọng, chính xác, cân bằng lợi ích và tính đến khả năng thực thi, tránh tạo kỳ vọng hoặc phản ứng không phù hợp trong xã hội.
Đối với các luật về quốc phòng, an ninh, đại biểu cơ bản thống nhất với việc sửa đổi để phù hợp yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy và thực tiễn. Đại biểu đề nghị rà soát quy định về lực lượng, phương tiện bay không người lái; cân nhắc quy định thời gian đóng bảo hiểm xã hội để quân nhân chuyên nghiệp được nghỉ hưu, bảo đảm quyền lợi và thống nhất với quy định chung; đồng thời làm rõ cơ chế bảo đảm kinh phí xây dựng trụ sở, thao trường, bãi tập của Ban Chỉ huy quân sự cấp xã, tránh chồng chéo trong phân bổ và quyết toán.
Đối với Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm không chồng chéo thẩm quyền quản lý, không phát sinh thêm thủ tục hành chính, nhất là giữa các quy định về ưu tiên giảm tần suất kiểm tra, giám sát với nguyên tắc không đặt ra các thủ tục kiểm tra, giám sát độc lập.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan. Đại biểu cho rằng, sau hơn 15 năm thi hành, Luật Hải quan đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và bảo đảm an ninh, chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của thương mại điện tử xuyên biên giới, kinh tế số, logistics, chuỗi cung ứng toàn cầu, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, Luật hiện hành cần tiếp tục được hoàn thiện.
Theo đại biểu, việc sửa luật cần hướng tới xây dựng nền hải quan hiện đại, quản trị bằng dữ liệu số, lấy quản lý rủi ro làm phương thức chủ đạo, vừa tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu hợp pháp, vừa kiểm soát hiệu quả buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế và vận chuyển hàng cấm. Đại biểu đề nghị hoàn thiện quy định về miễn kiểm tra thực tế đối với hàng hóa phục vụ quốc phòng, an ninh, đi đôi với tăng cường hậu kiểm, lưu trữ dữ liệu điện tử và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
Đối với thương mại điện tử xuyên biên giới, đại biểu đề nghị xây dựng cơ chế quản lý riêng dựa trên quản lý rủi ro, định danh điện tử, chia sẻ dữ liệu với các nền tảng số và kết nối thông tin thanh toán. Đồng thời, đại biểu đề nghị nghiên cứu mở rộng thẩm quyền xử lý ban đầu của các lực lượng chức năng, trong đó có Bộ đội Biên phòng, khi phát hiện buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, nhằm bảo đảm xử lý kịp thời, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Tham gia thảo luận, đại biểu Chu Lương Trí, ĐBQH tỉnh, đề nghị nghiên cứu đổi mới tư duy trong thực hiện nghĩa vụ quân sự theo hướng vừa bảo đảm trách nhiệm của công dân, vừa bảo đảm quyền lợi cho người tham gia. Đại biểu cho rằng cần có chính sách phù hợp để người thực hiện nghĩa vụ quân sự không cảm thấy thiệt thòi về cơ hội học tập, việc làm; đồng thời nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ sau khi hoàn thành nghĩa vụ như đào tạo nghề, ưu tiên tuyển dụng, đào tạo đại học và nâng cao chế độ, chính sách.
Đối với Luật Phòng không nhân dân, đại biểu đề nghị quản lý phương tiện bay không người lái theo hướng tổng thể, thống nhất, bởi đây là loại phương tiện có liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh. Theo đó, cần quản lý từ khâu sản xuất, kinh doanh, đăng ký phương tiện, xác định chủ sở hữu đến cấp quyền sử dụng, chứng chỉ đối với người điều khiển và kiểm soát quá trình hoạt động. Đại biểu đề nghị nghiên cứu giao một cơ quan đầu mối, có thể là lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng, quản lý thống nhất hoạt động của phương tiện bay không người lái, bảo đảm đồng bộ, hiệu quả.
Trong phiên thảo luận chiều cùng ngày để tiếp tục cho ý kiến vào các luật: Luật Dầu khí (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đại biểu Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cho rằng, việc sửa đổi Luật Dầu khí là cần thiết nhằm đáp ứng những thay đổi của tình hình trong nước, thế giới, sự phát triển của khoa học - công nghệ và yêu cầu mới trong chiến lược năng lượng quốc gia. Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đại biểu cho rằng đây là nội dung thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của những người bị xử lý không đúng, bị thiệt hại do hoạt động của cơ quan nhà nước.
Đối với dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đại biểu Quản Minh Cường đề nghị quy định "càng cụ thể càng tốt". Theo đại biểu, cần làm rõ ranh giới giữa rủi ro, thất bại trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với hành vi cố ý vi phạm, vụ lợi. Thực tế nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo luôn có yếu tố thử nghiệm, có thể thành công hoặc thất bại; nếu không có cơ chế bảo vệ phù hợp, cán bộ, nhà khoa học, kỹ sư sẽ có tâm lý sợ sai, không dám mạnh dạn nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới.
Theo đại biểu, trường hợp đã xác định người thực hiện vì mục đích chung, không tham nhũng, không vụ lợi, thực hiện đúng quy trình và được cấp có thẩm quyền cho phép nhưng kết quả không đạt như mong muốn thì cần có cơ chế xử lý phù hợp, không nên mặc nhiên coi đây là hành vi vi phạm và buộc cá nhân phải khắc phục hậu quả như một trường hợp sai phạm. Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ cũng phải đi đôi với kiểm soát chặt chẽ, tránh việc lợi dụng chính sách để trục lợi hoặc cố tình vi phạm pháp luật. Đồng thời, cần quan tâm tạo môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân tham gia nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, qua đó phát huy vai trò của kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của phát triển.
Đại biểu cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo phải trực tiếp tham dự, lắng nghe và tiếp thu đầy đủ ý kiến của đại biểu tại các phiên thảo luận tổ. Theo đại biểu, việc tương tác trực tiếp giữa cơ quan soạn thảo và đại biểu sẽ giúp làm rõ những vấn đề còn vướng mắc, nâng cao chất lượng tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, hạn chế tình trạng đại biểu góp ý nhiều lần nhưng những bất cập vẫn chưa được sửa đổi. Đây cũng là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm luật khi được ban hành thực sự sát thực tiễn và có tính khả thi.