Sinh ra ở xã Liên Khê, huyện Thuỷ Nguyên (Hải Phòng), một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống cách mạng, lại mồ côi cha mẹ từ sớm, năm 1949, khi mới 14 tuổi, cậu bé Vũ Thiếu Minh đã đi theo bộ đội làm liên lạc. Và từ đó cho đến lúc về hưu (năm 1992) với quân hàm đại tá, có thể nói cuộc đời ông gắn liền với những sự kiện lịch sử hào hùng của đất nước trong suốt hơn 30 năm chiến tranh…
(Đại tá Vũ Thiếu Minh, nguyên sỹ quan trong Đoàn phái viên Bộ Tư lệnh tiền phương vào tiếp quản Sài Gòn ngày 30-4-1975, trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)
Ông Vũ Thiếu Minh.
Trò chuyện với chúng tôi, ông bảo:
- Hơn bốn mươi năm trong quân ngũ, trải qua cả 3 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, với biết bao kỷ niệm, nhưng có lẽ có hai dấu mốc quan trọng nhất trong cuộc đời mà mình không thể quên. ấy là ngày mình cùng đơn vị về tiếp quản thị xã Hồng Gai, 25-4-1955 chứng kiến những tên lính Pháp cuối cùng phải xuống tàu về nước, và ngày mình trong Đoàn phái viên của Bộ Tư lệnh tiền phương vào tiếp quản Sài Gòn, 30-4-1975 chứng kiến cuộc tháo chạy của quân đội nguỵ quyền và cố vấn Mỹ… Chú biết đấy, làm một người lính mà được hai lần có mặt trong ngày vui chiến thắng cuối cùng như tôi thật là một may mắn, hạnh phúc vô bờ…
- Hai ngày ấy ở thời điểm cách nhau tròn 30 năm. Vậy cảm xúc của ông có gì giống nhau và khác nhau?
- Lúc về tiếp quản Khu mỏ, mặc dầu cũng đã lăn lộn khắp các chiến trường Chí - Nam - Kinh (Chí Linh - Nam Sách - Kinh Môn) được 5, 6 năm rồi, nhưng dẫu sao tôi vẫn chỉ là một cậu bé mồ côi nghèo, học hành chẳng đến đầu đến đũa, được các anh bộ đội cưu mang rồi cầm súng đi theo cách mạng. Vì thế, khi về tiếp quản Khu mỏ, tôi chưa có được những suy nghĩ sâu xa về chiến tranh, về cục diện chính trị hay thời thế v.v.. mà chỉ thấy một niềm vui sướng, hạnh phúc chan hoà; chỉ nghĩ hoà bình rồi, từ nay không còn cảnh bom đạn, không còn phải sống cuộc đời tủi nhục như xưa nữa!
Còn 30 năm sau, khi vào tiếp quản Sài Gòn, tôi đã là một sỹ quan từng trải, già giặn nên cảm xúc cũng khác hơn. Niềm vui, nỗi xúc động cũng trào dâng như ngày nào về tiếp quản Hồng Gai, nhưng đó là niềm vui, nỗi xúc động của người đã có 36 năm cầm súng, ý thức một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về cái giá của chiến thắng. Và cũng như những người lính khác có mặt ở Sài Gòn hôm ấy, tôi như vỡ oà trong niềm vui...
- Nghe nói trước đó, năm 1964, ông cũng đã từng đi B nhưng vì bị thương nên phải ra Bắc điều trị và lần tiếp quản Sài Gòn trong chiến dịch
Hồ Chí Minh là lần thứ hai ông vào Nam chiến đấu?
- Phải, đời tôi hình như rất có duyên với những cái “đầu tiên”. Năm 1956, sau khi tham gia chiến dịch tiễu phỉ ở khu Đông Bắc, tôi được cấp trên cử đi học lớp sỹ quan lục quân khoá đầu tiên. Sau khi tốt nghiệp thì được giữ lại Trường làm giảng viên, được 3 năm (từ 1961-1964) thì vào Nam chiến đấu. Thời kỳ này đường Trường Sơn mới mở và chúng tôi vẫn nói đùa với nhau rằng mình là những người đầu tiên “mở hàng” cho tuyến đường này. Hơn 3 tháng trèo đèo, vượt suối mới vào đến chiến trường và tháng 10-1965, tôi lại là một trong những chiến sỹ tham gia trận đánh Mỹ đầu tiên ở Plây me. Chỉ tiếc ngay trong chiến dịch này, tôi đã bị thương và được đưa ra Bắc điều trị. Lại hơn 3 tháng vượt Trường Sơn lộn trở lại. Và vì là sỹ quan tác chiến của một đơn vị đã tham gia trận đánh Mỹ đầu tiên nên ngay thời gian điều trị, tôi và 4 anh em khác được Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi đến báo cáo thực tế ở chiến trường. Tôi thực không ngờ lần ấy mình lại có may mắn được gặp Bác Hồ. Chúng tôi đang báo cáo với Đại tướng và các đồng chí trong Bộ Tổng tham mưu thì Bác vào. Bác lắng nghe rất chăm chú; sau đó Người hỏi thêm chúng tôi về tình hình cụ thể, rồi bảo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Tổng tham mưu cần phổ biến kinh nghiệm của bộ đội ta đánh Mỹ ở chiến trường cho các đơn vị chuẩn bị vào Nam chiến đấu…
Nói đến đây, Đại tá Vũ Thiếu Minh trở nên trầm tư:
- Chú ạ, cuộc đời con người ta ai cũng có những dấu mốc quan trọng. Với tôi, lần gặp Bác hôm ấy là một trong những dấu mốc như vậy. Lúc ở chiến trường, mặc dù là một sỹ quan tác chiến trung đoàn, nhưng nói thật, tôi vẫn chưa nhận thức được hết tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược của chiến dịch mà mình tham gia. Được gặp Bác, được nghe Bác nói, tôi có cảm giác mọi chuyện trở nên sáng tỏ ra… Ba tháng sau đó, tôi được cấp trên cử đi nói chuyện ở các đơn vị. Suốt ba tháng liền, từ Lạng Sơn cho đến Quảng Bình, ở đâu tôi cũng đều cố gắng để làm sao bộ đội ta hiểu thật đầy đủ tình hình thực tế, để không bị bất ngờ, hoàn toàn tự tin trước khi vào chiến trường…
Mà không chỉ lúc ấy, sau này khi được giao đảm trách những cương vị công tác mới, thậm chí ngay cả khi đã về hưu, tham gia công tác xã hội ở địa phương, tôi đều tâm niệm những điều Bác nói, rằng muốn đảm bảo chiến thắng thì trước hết phải làm cho mọi người nhận thức thực tế một cách chuẩn xác, cụ thể…
Năm 1992, ông Minh nghỉ hưu và làm Bí thư chi bộ khu 1, phường Bãi Cháy suốt 15 năm liền. Năm nào chi bộ Khu 1 cũng được công nhận là chi bộ vững mạnh xuất sắc và ông Minh đều được công nhận là đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ… Đến năm 2007, mặc dù vẫn đang rất được chi bộ tín nhiệm nhưng ông Minh vẫn kiên quyết xin thôi giữ chức Bí thư… Tôi nửa đùa, nửa thật hỏi ông, rằng phải chăng điều đó cũng là một quyết định “trên cơ sở nhận thức thực tế một cách chuẩn xác, cụ thể…”, ông cười:
- Kể cũng không sai đâu! Tôi ngẫm thấy tuổi tác mình đã cao rồi, cũng cần phải nghỉ ngơi. Nhưng cái quan trọng hơn, theo tôi, ở cấp thôn, khu, chi bộ là “cơ quan đầu não”, cần có sự năng động, nhanh nhạy trong việc lãnh đạo nhân dân thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ở địa phương. Nếu cái “đầu não” ấy mà “ù lì” thì nguy hiểm lắm! Cho nên một người như tôi, tuổi tác đã cao, làm bí thư lâu thế, sao tránh khỏi tư duy theo lối mòn. Cần phải thay thế thì mới phù hợp yêu cầu thực tế, mới có lợi cho công việc chung… Chú bảo có đúng không nào?
Tôi cười và chúc ông luôn mạnh khoẻ để tuy không là bí thư chi bộ nữa, vẫn đóng góp nhiều hơn cho xã hội…