“Dự án PEDC đã góp phần rất lớn trong việc cải thiện chất lượng giáo dục ở những vùng khó khăn...”

Dự án “Hỗ trợ giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (gọi tắt là PEDC) bắt đầu được triển khai thực hiện tại Quảng Ninh năm 2005. Trong dự án này, Quảng Ninh có 4 địa phương được hưởng lợi từ dự án; đó là các huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên và TP Móng Cái.

Qua 5 năm triển khai, dự án đã mang lại hiệu quả thiết thực, thực sự giúp đỡ ngành Giáo dục Quảng Ninh cải thiện chất lượng giáo dục ở các vùng khó khăn của tỉnh. Trò chuyện với ông Lê Đình Hưng, Trưởng phòng Giáo dục Tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh, Phó ban Dự án, ông cho biết:

Ông Lê Đình Hưng.

Ông Lê Đình Hưng.

+ Dự án “Hỗ trợ giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn”, có tổng nguồn vốn là 247 triệu USD (hơn 4.000 tỷ VND). Trong đó 140 triệu USD là vốn vay theo chương trình viện trợ phát triển ODA, còn lại là vốn không hoàn lại của 5 nước. Quảng Ninh là 1/40 tỉnh, thành trong cả nước được tham gia dự án. Mục tiêu của dự án này là nhằm tạo cơ hội tốt nhất cho trẻ em đến trường được học trong môi trường thuận lợi nhất để nâng cao chất lượng đào tạo...

- Cụ thể đó là những nội dung gì, thưa ông?

+ Dự án bao gồm 4 nội dung chính: Xây dựng các điểm trường tiểu học (mỗi điểm trường từ 3-4 phòng học, 1 phòng giáo viên, 1 nhà vệ sinh, 1 bể nước theo tiêu chuẩn kiên cố) gắn với các thiết bị như bàn ghế, bảng, thiết bị thắp sáng v.v..; bồi dưỡng để đạt trình độ chuẩn cho toàn bộ cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học, nâng cao chất lượng chuyên môn cho giáo viên; vận động cộng đồng tham gia công tác giáo dục và hỗ trợ sách giáo khoa, trang thiết bị cho giáo viên và học sinh. Trong đó, nội dung xây dựng điểm trường học chiếm 70% kinh phí của dự án.

- Vì sao các huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên và TP Móng Cái lại được hưởng lợi từ dự án? Như vậy, những địa phương này có gì khác so với các huyện, thị, thành phố trong tỉnh?

+ Đây là những huyện miền núi, biên giới đặc biệt khó khăn. Về quy mô, 4 địa phương này có 48 trường, hơn 16.500 học sinh (chiếm gần 20% số trường và số học sinh cả tỉnh) nhưng có tới 258/541 điểm trường (chiếm gần 50% số điểm trường của tỉnh). Đặc biệt ở các địa phương này, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm rất cao. Các huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên chiếm tới 85% dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, chủ yếu là người dân tộc Dao, Sán Dìu, Tày. Và có thể nói rằng, cách đây 5 năm, khi Dự án được triển khai, những địa phương này cũng là nơi tập trung những khó khăn nhất về giáo dục miền núi ở Quảng Ninh, như rào cản ngôn ngữ tiếng Việt, cơ sở vật chất trường lớp tạm bợ, tỷ lệ trẻ huy động ra lớp còn thấp v.v... Đặc biệt 2 huyện Ba Chẽ và Bình Liêu còn chưa đạt chuẩn PCGD tiểu học. Tất cả khó khăn đó dẫn đến chất lượng dạy và học còn nhiều hạn chế. Xác định như vậy; Sở Giáo dục - Đào tạo coi Dự án là nguồn lực, tranh thủ sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương đầu tư cho các điểm vùng sâu vùng xa của tỉnh...

- Nhưng các huyện như Đầm Hà, Hải Hà, Hoành Bồ cũng còn không ít những điểm trường ở những thôn bản vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Tại sao, họ lại không được hưởng lợi từ dự án?

+ Đây cũng là một thiệt thòi, nhưng có lẽ một phần là do... “bệnh thành tích” gây nên. Bởi vì, khi tiến hành điều tra mức xây dựng tối thiểu ở các điểm trường, nhiều nơi trên thực tế chỉ là nhà tạm thôi thì lại ghi nhà cấp 4, nhà cấp 4 đã hỏng rồi thì lại ghi nhà xuống cấp v.v... Vì vậy, khi điều tra mức xây dựng độ tối thiểu, ứng dụng công nghệ tin học vào, địa phương nào dưới chuẩn, dưới mức xây dựng tối thiểu thì được đưa vào. Ngoài ra, như với Móng Cái chẳng hạn, vì là thành phố biên giới nên cũng có thêm những ưu tiên...

- Nhìn lại quá trình triển khai dự án, việc tiến hành xây dựng các điểm trường ở vùng sâu, vùng xa như thế nào, thưa ông?

+ Có thể nói việc xây dựng các điểm trường ở vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn mà trở ngại lớn nhất chính là việc vận chuyển nguyên vật liệu vào xây dựng. Có khi ô tô chở nguyên vật liệu vào đến nơi gặp trời mưa, tắc đường đến vài ngày không ra được. Thế rồi, có những nơi không thể vận chuyển bằng phương tiện cơ giới thì phải vận chuyển bằng thủ công, thuê nhân công hoặc vận động nhân dân thôn bản vận chuyển bằng cách khiêng vác chở bè qua sông. Không ít nhà thầu xe bị đổ nhiều lần phải dùng xe cứu trợ hay bị đổ nguyên vật liệu xuống sông không thể lấy lại được. Thêm nữa, vào năm 2008, giá cả nguyên vật liệu xây dựng lên cao, các nhà thầu bị lỗ, nhưng vẫn phải thực hiện theo đúng hợp đồng theo cam kết. Ngoài ra, do kinh phí làm mặt bằng không có, các địa phương phải bỏ tiền ra đối ứng. Nhiều địa phương khó khăn không có tiền bỏ ra đối ứng thì lại phải dùng kinh phí tiết kiệm được của ngành Giáo dục huyện để làm mặt bằng, có chỗ làm mặt bằng tốn đến vài trăm triệu. Một vấn đề nữa, không thể không nhắc đến đó là bộ máy điều hành của tỉnh và huyện đều là những người kiêm nhiệm nên không chủ động thời gian cho chỉ đạo và triển khai nhiệm vụ của Dự án. Tuy nhiên, khắc phục mọi khó khăn, các công trình vẫn được hoàn thành theo đúng tiến độ thi công.

- Đến thời điểm này, đã có bao nhiêu điểm trường được xây dựng từ dự án?

+ Sau 5 năm triển khai, dự án đã xây mới được 130 điểm trường, 458 phòng học kiên cố. Sửa chữa được 66 điểm trường với 260 phòng học chức năng. Xây mới 166 nhà vệ sinh, 140 bể nước, đào và khoan 145 giếng nước, dẫn nước nguồn ở những nơi không thể khoan hoặc đào giếng được. Tổng số tiền đầu tư xây dựng và sửa chữa là 115 tỷ đồng.

“Dự án PEDC đã góp phần rất lớn trong việc cải thiện chất lượng giáo dục ở những vùng khó khăn...” ảnh 2
Điểm trường mới Bãi Liêu, xã Lương Mông, Ba Chẽ được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn dự án “Hỗ trợ giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn”.

- Theo ông, cái được lớn nhất của dự án trong việc xây dựng các điểm trường tiểu học là gì?

+ Dự án đã làm thay đổi hẳn bộ mặt trường sở của các điểm trường vùng sâu, vùng xa, từ nhà tạm tranh tre, nứa lá thành nhà kiên cố với đủ tiện nghi thiết bị phục vụ cho nâng cao chất lượng dạy và học. Không những thế, nó còn tạo ra sự hấp dẫn về cảnh quan, phòng học, thiết bị bàn ghế làm cho các em học sinh thích đến trường hơn, nhân dân quan tâm đến việc học tập của con em mình hơn, nhận thức về chính sách dân tộc miền núi của Đảng được nhân dân các dân tộc miền núi hiểu đầy đủ và nâng cao hơn, tăng thêm niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ ưu việt của xã hội ta. Điều đáng ghi nhận khi xây xong trường lớp mới kiên cố, thì tỷ lệ học sinh đến trường đã có sự thay đổi đáng mừng; nếu trước đây tỷ lệ học sinh đến trường chỉ đạt dưới 95% thì bây giờ đã tăng lên 97; 98%, có những thôn bản đạt tỷ lệ 100%

- Ông đánh giá như thế nào về việc triển khai thực hiện Dự án “Hỗ trợ giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” ở Quảng Ninh?

+ Theo Ban điều phối dự án Trung ương, họ đánh giá rất cao sự chỉ đạo có hiệu quả các công trình xây dựng điểm trường vùng khó của Quảng Ninh. Các công trình này đều đạt chất lượng, không có công trình nào xuống cấp. Đặc biệt không có sai sót về mặt kết cấu như nứt tường, lún móng v.v... Thực tế từ năm 2005 đến nay, có rất nhiều đoàn cán bộ giáo viên ở các tỉnh bạn đến tham quan và học hỏi kinh nghiệm. Tôi cho rằng, việc thực hiện triển khai Dự án “Hỗ trợ giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” ở Quảng Ninh đã đạt được những kết quả như mong muốn. Dự án tạo cơ hội tốt nhất cho trẻ em đến trường được học trong một môi trường thuận lợi.

- Xin cảm ơn ông!

Cùng chuyên mục