Trong điều kiện còn nhiều hạn chế, các làng nghề và làng nghề truyền thống của Quảng Ninh, mặc dù đã được tỉnh đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây, song vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức khi bước vào “sân chơi” lớn là WTO...
Làng nghề, nếu hiểu một cách khái quát, là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định; trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống chuyên bằng một hoặc nhiều nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, văn hoá, xã hội một cách chặt chẽ... Sắp tới, theo quy định của Chính phủ (tại Nghị định 66/2006/NĐ-CP), Bộ NN&PTNT sẽ đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể về làng nghề và làng nghề truyền thống, để trên cơ sở đó, UBND cấp tỉnh ra quyết định công nhận các làng nghề tại địa phương mình. Và trong lúc chờ Bộ NN&PTNT định ra một tiêu chuẩn thống nhất, hiện nay các địa phương vẫn tạm xác định một làng(hoặc thôn, bản v.v...) là làng nghề khi trong làng có ít nhất 50% số lao động hoặc số hộ sản xuất những nghề này và doanh thu phải đạt 50% tổng thu nhập do sản xuất nói chung của làng trở lên. Đó là với làng nghềnói chung, còn với nghề và làng nghề truyền thống, nó phải được tồn tại ít nhất là 50 năm trở lên.
Nếu dựa theo những tiêu chí này thì phải nói thật rằng làng nghề và làng nghề truyền thống ở Quảng Ninh quá ít ỏi. Thậm chí theo tiêu chí mới được Sở Công nghiệp đề xuất với UBND tỉnh, số lao động hoặc hộ dân làm nghề CN-TTCN ở làng chỉ cần chiếm 30%, số doanh thu chỉ cần 40% và thời gian tồn tại chỉ cần từ 20 năm trở lên là đủ để công nhận làng nghề truyền thống, thì làng nghề và làng nghề truyền thống ở Quảng Ninh cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Ít về số lượng, làng nghề Quảng Ninh còn ít được biết đến trên thị trường, nhất là thị trường khu vực và quốc tế. Ngoại trừ làng nghề gồm sứ ở Đông Triều mấy năm gần đây, ở một mức độ nào đó, có thể coi là đã bước đầu khẳng định thương hiệu của mình, còn lại các nghề truyền thống khác, như nghề chiếu cói, thảm đay (ở vùng Hà An, Yên Hưng và vùng Phương Nam, Uông Bí), nghề sản xuất thuyền nan (ở xã Hưng Học, Yên Hưng), nghề sản xuất các mặt hàng guột, đót (ở một số xã thuộc Ba Chẽ, Tiên Yên), nghề đóng thuyền buồm cánh dơi (ở xã Minh Châu, Quan Lạn, thuộc huyện Vân Đồn) v.v... đều bị mai một đi nhiều so với truyền thống vốn có.
Trong điều kiện còn nhiều hạn chế như vậy, rõ ràng các làng nghề và làng nghề truyền thống của Quảng Ninh, mặc dù đã được tỉnh đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây, song vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức khi bước vào “sân chơi” lớn là WTO... Đó là những thách thức trong quá trình hội nhập, chịu áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất cùng loại mặt hàng; đó là áp lực do sự thiếu minh bạch trong bản thân ngành sản xuất TTCN hiện nay; khi mà tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém hcất lượng v.v... tràn lan trên thị trường. Và cả sự không minh bạch do tình trạng trốn lậu thuế, gian lận thương mại v.v... của một số cơ sở TTCN làm ăn theo kiểu “chộp giật” gây ra... Trong tình hình ấy, các làng nghề và làng nghề truyền thống Quảng Ninh lại chưa khẳng định được thương hiệu, còn phát triển mang tính tự phát là chính, chưa tạo ra mối quan hệ hợp tác chặt chẽ theo một tổ chức hiệp hội đủ mạnh, chưa có hướng đào tạo nghề lâu dài, bàn bản v.v... thì quả là đã khó càng khó hơn.
Khỏi cần nói thì ai cũng biết, việc khôi phục và phát triển các làng nghề TTCN có ý nghĩa quan trọng như thế nào trong quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn hiên nay. Phát triển làng nghề sẽ góp phần giải quyết tình trạng thừa lao động ở khu vực nông nghiệp; kéo theo sự phát triển và hình thành nhiều ngành nghề, dịch vụ khác; tạo ra một cơ cấu kinh tế đa dạng, bao gồm nhiều ngành như TTCN, thương mại, dịch vụ, du lịch v.v... Trên cơ sở đó, thu hút triệt để nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tận dụng thời gian và lực lượng lao động tại chỗ, từ đó mà hạn chế di dân tự do v.v... Mặt khác, thực tế cho thấy những vùng có làng nghề phát triển thì trình độ dân trí phát triển, văn minh hơn những vùng chỉ thuần nông; bởi do nhu cầu phát triển nhiều ngành nghề, điều kiện cơ sở vật chất và văn hoá tại địa phương phải nâng cao hơn, mức sống người dân cũng theo đó mà nâng lên. Đồng thời, làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống, còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hoá riêng của địa phương... Trong khi đó, Quảng Ninh thực ra không phải không có tiềm năng phát triển các ngành nghề TTCN. Ở các vùng nông thôn tỉnh ta hiện đang có một nguồn lực lao động tiềm tàng rất lớn, với khoảng 180 ngàn lao động từ 15 tuổi trở lên cần việc làm và khoảng 60 ngàn lao động khác dôi dư trong sản xuất nông nghiệp. Quảng Ninh lại là tỉnh có nhiều nguồn nguyên liệu đáp ứng nhiều ngành nghề TTCN như than đá, đất sét, cao lanh, cát trắng, tre nứa, đay, cói v.v... Và thực tế trước đây, những ngành nghềTTCN dựa trên nguồn nguyên liệu đa dạng này đã phát triển rất mạnh ở các địa phương. Vấn đề là làm thế nào để khôi phục và tạo hướng đi phù hợp cho các làng nghề phát triển? Đây là điều mà các nhà hoạch định chiến lược của tỉnh cần nghiên cứu, xây dựng quy hoạch tổng thể cho từng giai đoạn, ở từng địa phương. Trên cơ sở đó, các làng có nghề truyền thống hoặc dự định phát triển nghề mới, sẽ chủ động tìm hướng đi có lợi nhất cho mình...