Đằng sau một con phố thẳng tắp với những dãy nhà cao của TP Hạ Long hiện vẫn còn những phận đời thất học bởi quanh năm phải vất vả mưu sinh. Vì lẽ ấy, đến giờ, TP Hạ Long vẫn có những lớp học sáng điện về đêm để “xóa mù” chữ...
Cô giáo Nguyễn Thị Sự tận tình hướng dẫn các học viên làm quen với bảng chữ cái.
Chuyện của năm trước
Chuyện thứ nhất: Giữa buổi trưa hè nóng nực và oi ả của một ngày tháng 4-2010, tôi theo chân một người bạn, tìm đến khu nhà trọ của bố con anh Nguyễn Văn Quảng ở khu 8, phường Cao Xanh (TP Hạ Long). Khu nhà trọ cấp 4, lụp xụp nằm núp sau một ngôi nhà cao tầng, to đẹp, càng khiến nó trở nên nhếch nhác, xập xệ. Những người ở khu nhà trọ này hầu hết là dân lao động có thu nhập rất thấp. Bữa trưa của bố con anh Quảng chỉ có mấy con cá nát kho, vài miếng thịt ba chỉ và nồi cháo nấu dối. Anh Quảng sinh năm 1975, có hộ khẩu thường trú tại tổ 13, khu 7, phường Cao Xanh. Anh kể: Nhà anh có 10 người (bố, mẹ, anh, em và hai con trai của anh) chỉ có 50m2 nhà để ở. Bí bách quá, anh đành phải đưa con trai út sang khu bên thuê ở trọ. Trước kia, anh và các con cũng đã từng có một mái ấm thật hạnh phúc, nhưng rồi vợ, chồng anh chia tay nhau khi con trai thứ 2 của anh chưa đầy 2 tuổi. Kể từ đấy, một mình anh lận đận “gà trống nuôi con”. Rít một hơi thuốc lá thật dài, anh Quảng chậm rãi: “Nói cô đừng cười, tôi không biết chữ, không học hành, không nghề nghiệp, nên chỉ biết đi xây kè đá thuê. Ngày nhiều được vài chục nghìn, ngày mưa thì đành bó gối ở nhà. Làm không đủ ăn thì lấy đâu ra tiền cho bọn trẻ đi học. Thằng này (Cường, con trai út ngồi cạnh) 8 tuổi, anh nó 13 tuổi, nhưng chưa một ngày được đến trường. Tôi biết mù chữ thiệt thòi lắm, nhưng làm sao được, khi việc học của bọn trẻ bây giờ quá tốn kém”.
Cường có khuôn mặt khá già so với tuổi, nhưng vóc dáng chỉ nhỉnh hơn đứa bé lên 5. Cường đã làm được mọi việc để giúp bố, từ đi chợ, nấu cơm đến giặt quần áo. Nhìn cậu bé thoăn thoắt đưa tay rửa từng chiếc bát, tôi hỏi: “Cháu có thích đi học không?”. Cậu bé bỗng cúi gằm mặt, khẽ lắc đầu. Tôi bảo: “Cháu không đi học sao biết tính tiền đi chợ được?”. Cậu bảo: “Nhà cháu thường chỉ mua mớ rau là cùng, mua nhiều thành quen”. Khác xa với vẻ lầm lụi, kín đáo của cậu em, anh trai Cường hồ hởi nói: Cháu rất thích được đi học. Ở trường nhiều bạn và đủ các trò chơi!
Chuyện thứ hai: Khi nghe tin vợ chồng ông Vẻ mù, sau 30 năm sống chòng chành trên chiếc thuyền nan ọp ẹp, đánh bắt hải sản để đắp đổi qua ngày ở khu cảng mới TP Hạ Long dọn về nhà mới (ông, bà được TP Hạ Long cấp đất, xây nhà để an cư ở khu 6, phường Cao Xanh), tôi tìm đến để chia vui. Trong câu chuyện với chúng tôi, niềm vui của đôi vợ chồng già ấy dường như vẫn chưa được trọn vẹn. Bà Quyết, vợ ông Vẻ mù giọng buồn rầu: “Cô biết rồi đấy. Gần 30 năm lênh đênh sông nước, nên cả 3 đời nhà tôi đều thất học”. Đưa tay chỉ vào cô bé chừng 8 tuổi, gầy gò, đen đúa, bà tiếp: “Cô đi nhiều, biết nhiều có thể xin giúp cho đứa cháu nội này của tôi đi học không?”.
An cư, nhưng chưa lạc nghiệp
Tôi đem chuyện của bố con anh Quảng và bà Quyết tìm gặp những người có trách nhiệm của phường và thành phố. Đồng chí Vi Bích Hạnh, Phó trưởng Phòng GD-ĐT TP Hạ Long cho biết: “Chúng tôi đã rất nỗ lực vận động, mở lớp. Nhưng lần nào cũng vậy, ban đầu còn đông, sau số học sinh cứ rơi rụng dần, dù mọi chi phí dạy và học cho thầy, trò, thành phố đều lo hết. Thực tế, nếu người dân ở đây sống thủy cư hoàn toàn và quần tụ ổn định như làng chài Cửa Vạn, có lẽ dễ tổ chức lớp học hơn. Thời gian tới, chúng tôi sẽ chỉ đạo các trường tiếp tục điều tra, vận động học sinh ra lớp và tổ chức các lớp xóa mù”.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, khu phố 7 (hay còn gọi là khu Thành Công), phường Cao Xanh hiện có 415 hộ với trên 1.700 nhân khẩu, là nơi có tỷ lệ người mù chữ khá cao của thành phố. Mặc dù hiện cả khu chỉ có 2 hộ nghèo, nhưng là khu phố nghèo nhất của phường. Những năm 60 trở về trước, cư dân của khu 7 chủ yếu làm nghề sông nước, không mấy gia đình có nhà ở ổn định trên bờ. Mãi nhiều năm sau này, khi thành phố có chính sách định cư cho các gia đình chài lưới, nhiều hộ mới lên bờ, dựng nhà. Nhưng hệ lụy của những năm tháng lênh đênh sông nước là nhiều người dân khu phố mù chữ hoặc học hành không đến nơi đến chốn, khiến cuộc đời của họ an cư mà không lạc nghiệp. Hiện cả khu 7 có tới 90% dân số làm nghề tự do. Nhiều hộ xây nhà trên đất liền, nhưng vẫn đóng cửa để đó, ngày ngày lại xuống thuyền bám biển mưu sinh. Những đứa trẻ trong độ tuổi đến trường phải gánh trách nhiệm của những lao động chính trong gia đình. Vì lẽ ấy, nhiều gia đình như anh Nguyễn Văn Quảng ở đây, 3 đời đều thất học.
Theo ông Nguyễn Văn Hồng, nguyên trưởng khu phố 7, trước năm học 2010-2011, cả khu có khoảng 140 trẻ trong độ tuổi đi học, thì tới 25 trẻ không được đến trường. Phần lớn là các cháu đang sống lênh đênh trên biển cùng bố mẹ. Nhiều gia đình thu nhập chỉ tạm sống qua ngày. Nếu như thuộc hẳn diện hộ nghèo thì con cái họ đi học sẽ được miễn giảm học phí. Đầu năm học nào, các cô giáo cũng đến từng nhà vận động, nhưng rồi chỉ được vài ba hôm, các cháu lại nghỉ. 4-5 năm trước nhiều người trong khu đã được xoá mù chữ, nhưng giờ có lẽ số tái mù không ít.
Các học viên lớp xoá mù khoá 3 của Khu 7, phường Cao Xanh cùng nhau học tập.
Lớp học “xóa mù”
Một tối ngày cuối năm trong cái giá rét cắt da, cắt thịt, chúng tôi trở lại khu 7 để tham dự lễ khai giảng của lớp học “xóa mù” ở đây. Lớp học được tổ chức ngay tại nhà văn hóa khu; có bảng đen, phấn trắng, giáo viên và học sinh; chỉ khác, lứa tuổi không đồng đều nhau, người lớn tuổi nhất là 34, ít tuổi nhất là 15. Không tưng bừng như những lễ khai giảng tôi đã từng thấy, nhưng không khí lớp học vẫn rất trang trọng, đầm ấm, nên phần nào cũng giúp các học viên xua đi được sự ngại ngùng. Học viên Vũ Thị Ngà, 27 tuổi, tâm sự: “Bố, mẹ em làm nghề chài lưới, suốt ngày lênh đênh sông nước, nên em ở với ông, bà từ nhỏ. Ở tuổi được đi học thì không có điều kiện, không có người bảo ban, giờ mới thấy tiếc. Trước ở khu cũng có mở lớp, nhưng cao tuổi mới bắt đầu đi học, em xấu hổ nên bỏ. Lần này thì em quyết tâm, học cho mình nên chẳng có gì phải xấu hổ cả”.
Theo cô giáo Nguyễn Thúy Bền, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Cao Xanh: Để mở được những lớp xóa mù như này, các cô giáo và lãnh đạo khu tốn khá nhiều công sức, thời gian, từ điều tra, tìm hiểu hoàn cảnh, đến vận động. Mở lớp đã khó vậy, giữ được lớp còn khó hơn. Bởi các học viên đều đã quá tuổi đi học, không phải ai cũng vượt qua được sự ngại ngùng để đến lớp. Lớp học xóa mù đầu tiên của Trường được mở từ năm học 2003-2004; lần mở này là lớp thứ 3, có 26 học viên. Để tạo điều kiện thuận lợi, tăng sự tự tin cho các học viên, khóa nào nhà trường cũng mời cô Nguyễn Thị Sự, giáo viên về hưu ở cùng khu, nhiệt tình, giàu kinh nghiệm trong công tác xóa mù, làm chủ nhiệm. Các học viên được phát miễn phí sách, bút, vở... Thế nhưng mỗi khóa cũng chỉ duy trì được từ 10 đến 12 học viên tốt nghiệp. Nhìn cô giáo Sự vất vả, cẩn trọng uốn từng cách phát âm, từng nét chữ cho các học viên và những ánh mắt đầy ngại ngùng của các học viên, chúng tôi hiểu 10-12 học viên tốt nghiệp mỗi khóa học đã là một thành công, là món quà lớn dành tặng cho những người giàu tâm huyết, nhiệt tình như cô giáo Sự và cả những người dám vượt lên trên sự mặc cảm để đến lớp làm giàu tri thức cho bản thân mình.
Chia tay lớp học, dù biết rằng khó, nhưng tôi vẫn chúc cho kết thúc khóa học cả 26 học viên hôm nay sẽ được nhận bằng tốt nghiệp và khu phố 7 sẽ không còn người mù chữ... Niềm vui của mọi người được nhân lên khi biết rằng, cùng với việc vận động các học viên tham gia lớp xóa mù, các thầy, cô giáo của Trường Tiểu học Cao Xanh còn vận động được 13 trẻ trong độ tuổi đi học ra lớp; trong đó có trường hợp của anh em Cường và cháu nội bà Quyết...