Chúng tôi may mắn đi Cô Tô vào ngày nước nam. Theo cách nói của các “lão ngư” ở đảo, những ngày nước nam là ngày “thả đĩa không chìm”. Một tháng chỉ có hai ngày biển rất trong và lặng sóng như vậy. Còn hầu hết các chuyến tàu ra đảo đều phải vượt qua những con sóng to, đến những người thâm niên trong nghề biển cũng có khi say sóng.
Người thắp sáng “mắt đêm” Mượn được chiếc xe máy, tôi và người bạn đồng nghiệp bắt đầu rong ruổi khám phá đảo Cô Tô. Theo giới thiệu của cánh xe ôm, điểm đến đầu tiên chúng tôi chọn là ngọn hải đăng Cô Tô. Từ trung tâm huyện tới ngọn hải đăng chừng 5km. Xe chúng tôi luồn lách trên đường nhỏ giữa một bên là núi cao, bên kia là biển lộng gió. Đoạn từ chân núi lên, con dốc khúc khuỷu, trơn trượt bởi lớp rêu xanh phủ dày do hiếm nắng và ít người qua lại. Đồng nghiệp của tôi, một tay lái cừ phải khá chật vật mới lên được đến đỉnh. Đứng ở lan can của ngọn đèn biển, tôi thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của Cô Tô. Bốn bề là biển xanh, gần là núi, xa là đảo, xa hơn nữa là đất liền với những dãy núi uốn lượn. Trạm trưởng Trạm Hải đăng Cô Tô Nguyễn Công Giang có nước da và khuôn mặt sạm nắng. Anh hồ hởi giới thiệu: Trạm Hải đăng Cô Tô, trực thuộc Công ty Đảm bảo an toàn hàng hải I (TP Hải Phòng). Hải đăng Cô Tô có chiều cao 102m so với mực nước biển. Tầm hiệu lực ánh sáng là 30 hải lý, tức khoảng gần 60km. Nhiệm vụ của ngọn hải đăng là hướng dẫn phương tiện hoạt động trên vùng biển Quảng Ninh; định hướng tàu thuyền ra vào cảng tàu Cô Tô; phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm ảnh hưởng đến an toàn hàng hải... Công việc của những người ở Trạm Hải đăng tưởng chừng như nhẹ nhàng nhưng lại rất quan trọng vì trực tiếp ảnh hưởng đến sinh mạng, tài sản của hàng ngàn ngư dân và tàu thuyền trên vùng biển Đông Bắc Tổ quốc. Trạm hiện có 7 người và tất cả đều là nam giới, đến từ Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định… nhưng ai cũng đều xem đây là quê hương thứ hai của mình. Anh Giang là người gắn bó với Trạm lâu nhất. Anh đã có 24 năm thắp sáng đèn biển và đã kịp xây dựng cho mình một “hậu phương” vững chắc ngay trong thị trấn. Còn anh Phạm Văn Huy, sinh năm 1977, quê Hải Dương đã có 14 năm công tác trong nghề và luân chuyển qua 4 trạm. Anh Huy chia sẻ: “Công việc của chúng tôi hàng ngày là bảo dưỡng các thiết bị và giữ cho đèn luôn trong trạng thái sẵn sàng. Phải lau chùi, kiểm tra hệ thống cung cấp nhiên liệu, theo dõi chu kỳ đèn thật chính xác để đảm bảo đến 18 giờ hàng ngày đèn hoạt động tốt. Đèn mỗi trạm hải đăng có chu kỳ chớp khác nhau, người đi biển dựa vào chu kỳ đó để phân biệt vị trí. Hải đăng Cô Tô có chu kỳ 12 giây với 2 lần chớp gần nhau và 1 lần chớp cách, mỗi lần chớp chỉ kéo dài 0,03 giây”. Trong câu chuyện với chúng tôi, những người thắp sáng “mắt đêm” ở vùng biển Cô Tô này luôn khẳng định, việc các anh lặng thầm soi sáng cho đêm là hết sức tự nhiên. Bởi đó là nghề, là tình yêu và niềm đam mê với biển. Trạm Hải đăng Cô Tô là 1 trong số hơn 30 “con mắt biển đêm” đang hoạt động trên khắp vùng lãnh hải Việt Nam. Hải đăng Cô Tô được xây dựng từ cuối thế kỷ 19. Khác với ngày trước, giờ đây những người thắp đèn biển không còn phải chèo thuyền nan đi đốt đèn biển bằng dầu hoả. Đèn biển đã được đầu tư chiếu sáng bằng pin năng lượng mặt trời; có hệ thống tự động, bán tự động điều khiển. Nhưng điều đó không có nghĩa là cuộc sống, công việc của họ đã hết khó khăn, vất vả. Hằng ngày, ở nơi đầu sóng ngọn gió họ phải đối mặt với nhiều khó khăn từ chuyện ăn uống, sinh hoạt cá nhân và cả nhu cầu giải trí. Hiện đảo Cô Tô chưa có điện lưới, mà chỉ có điện chạy bằng máy phát nên ban ngày hầu như họ không dám xem ti vi. Nơi đảo xa, báo thường ra chậm 3-4 ngày, thậm chí, mùa biển động, chậm 1 tuần là chuyện hết sức bình thường. Do ở trên núi cao, cách xa khu dân cư nên thức ăn cũng chỉ toàn đồ khô... Nhưng khổ nhất là chuyện nước sinh hoạt. Đảo đã khan hiếm nước, các anh lại ở trên đồi cao thì còn khan hiếm hơn. Các anh phải tận dụng lan can của đèn biển hoặc mái nhà để hứng nước mưa. Vì thế mà 72 bậc cầu thang từ dưới chân lên đến đỉnh ngọn hải đăng luôn được các anh giữ gìn sạch sẽ. “Đeo giầy dép lên sẽ mang theo bụi bẩn. Lúc hứng nước mưa để dùng nước sẽ không sạch. Vì thế mọi người thông cảm, chỉ đi chân không lên thôi nhé!” - Anh Bùi Văn Tuấn giải thích và dặn chúng tôi. Không chỉ vậy, những người “thức” cùng biển còn phải từng ngày, từng giờ vật lộn với sóng gió, bão táp, sự cô đơn giữa mênh mông sóng nước… để hoàn thành nhiệm vụ. Món quà của thiên nhiên Từ chân núi ngọn Hải đăng đi chừng 15 phút, qua khu rừng nguyên sinh Bắc Vàn, đồng nghiệp của tôi reo lên: “Thật đã, giống y như cảnh trong bức hoạ Mùa thu vàng của Lêvitan”. Cụ Huân, một cư dân nhiều năm gắn bó với đảo cho biết: Rừng nguyên sinh này đến nay vẫn được cư dân trên đảo bảo tồn nguyên vẹn như hồi tôi mới đến. Đi sâu thêm nữa là những bãi tắm dài, cát trắng mịn chân. Qua hết khu rừng nguyên sinh, có thể nhìn thấy đảo Cô Tô “con” như ngay gần trước mắt. Những cư dân ở đảo bảo, tưởng gần vậy nhưng cũng phải mất nửa tiếng đi thuyền. Đảo này vẫn còn vắng bước chân người và chỉ có tiếng chim chóc và những chú khỉ tinh nghịch. Sâu ở phía trong bãi Bắc Vàn, sóng êm nước lặng vốn là nơi trú bão của tàu, thuyền mỗi khi biển động. Ngắm bãi Bắc Vàn với đá ngầm, đá nổi gập ghềnh trên triền cát, chúng tôi cảm giác thật thư thái, thoải mái. Từ Bắc Vàn, chúng tôi rẽ sang các con đường nhánh khác nhau thì gặp bãi Vàn Chải, bãi Hồng Vàn (cư dân ở đây còn gọi là Hom Trinh Sát) như lời cụ Huân giới thiệu. Đây là hai bãi biển đẹp nhất ở Cô Tô. Bãi Vàn Chải nằm ở phía tây của đảo, vẫn còn hoang vu với bờ biển uốn cong, bãi cát mịn, trắng tinh, sóng vừa đủ lớn để nô đùa, thư giãn. Còn bãi Hồng Vàn nằm ở phía đông, nước lặng êm ả, lăn tăn như nước hồ do có đảo Thanh Lân trải dài nằm chắn gió từ ngoài biển thổi vào, bờ cát mềm mại với những thảm hoa muống biển tím ngắt. Đến bãi Vàn Chải, vừa bước xuống xe, tôi ào ngay xuống biển. Nước trong xanh, từng lớp sóng bạc đầu xô vào bờ cát. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại gặp nhánh san hô đỏ nhỏ hay những con sao biển to gấp rưỡi bàn tay bị sóng đánh dạt vào bờ. Nhặt con sao màu tím nhạt, đồng nghiệp của tôi nói sẽ giữ lại làm quà kỷ niệm cho chuyến đi biển Cô Tô lần này. Suốt dọc hành trình đến với những địa danh “trời phú” cho đảo Cô Tô, chúng tôi đã gặp những cư dân thân thiện của đảo. Ngư dân trên đảo chủ yếu sống bằng nghề khai thác và đánh bắt thuỷ sản. Phụ nữ, người già thì khai thác rong biển để bán cho tư thương Trung Quốc. Vừa quơ tay đảo đống rong biển phơi trên cát, bà cụ Thơm vừa thủng thẳng nói: “Ngày trước khi chưa bị cấm, khai thác rong biển cũng là một nghề ở mảnh đất này nhưng giờ cán bộ huyện bảo khai thác rong biển sẽ xâm hại đến môi trường sinh thái nên bà con thôi không làm nữa rồi. Chỗ này là tôi đi vớt những đám rong bị sóng đánh dạt vào bờ. Lúc tươi tưởng nhiều nhưng khô rồi, ngót chẳng còn được bao nhiêu đâu”. Bên cạnh những người định cư trên bờ vẫn còn một số hộ coi thuyền là nhà. Sinh hoạt của họ vô tư và thuần khiết đến lạ. Khi hoàng hôn buông xuống, từng chiếc tàu nối đuôi nhau trở về bến. Mọi người hồn nhiên tắm, ăn uống, nấu nướng trên chính con thuyền của mình. Và chính những con thuyền dập dềnh đậu nơi mép biển lại cho họ giấc ngủ bình yên khi đêm xuống.
Ngọn Hải đăng cao 102m so với mặt nước biển được mệnh danh là nới có tầm nhìn tuyệt vời nhất Việt Nam.
Chủ nhân tương lai của đảo Cô Tô.
Biển Cô Tô trong xanh, bình lặng và yên ả.
“Rừng vàng, biển bạc” là hai thứ quý giá mà Cô Tô được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng. Những giá trị này đã và đang là món quà ý nghĩa mang lại cuộc sống thanh bình, yên ấm và đầy đủ cho hơn 3.000 cư dân trên đảo. Với tài nguyên từ rừng và biển còn hứa hẹn Cô Tô là điểm du lịch lớn đầy hấp dẫn trong tương lai nếu được đầu tư đúng mức và đúng cách.