Một số giải pháp bảo tồn, tôn tạo các di tích trọng điểm Quảng Ninh

Những khu di tích này là những địa danh thiêng liêng nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, là yếu tố cốt lõi bên trong góp phần tạo nên sức mạnh tiềm tàng, bền vững và bản lĩnh của dân tộc; là nét riêng biệt, độc đáo của văn hoá Việt Nam.

Khu Di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, huyện Yên Hưng - nơi ghi dấu chiến công vĩ đại của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ 13; Khu Di tích lịch sử văn hoá Đền Miếu và lăng mộ các vua Trần ở Đông Triều - vùng đất linh thiêng, nơi có những công trình đền chùa lăng miếu cổ kính được nhà Trần chọn làm nơi an nghỉ vĩnh hằng của các tiên đế; Khu Di tích Danh thắng Yên Tử, thị xã Uông Bí - Di tích danh thắng nổi tiếng của nước ta, nơi Đức phật tổ Trần Nhân Tông tu hành đắc đạo và sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm, một trong những trung tâm văn hoá lớn của nền văn minh Đại Việt; Khu Di tích lịch sử Thương cảng Vân Đồn, huyện Vân Đồn - một trung tâm thương mại có quy mô lớn, một khu vực có vị trí quân sự chiến lược gắn liền với quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước của dân tộc ta trong lịch sử. Những khu di tích này là những địa danh thiêng liêng nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, là yếu tố cốt lõi bên trong góp phần tạo nên sức mạnh tiềm tàng, bền vững và bản lĩnh của dân tộc; là nét riêng biệt, độc đáo của văn hoá Việt Nam.

Để các di tích này thực sự trở thành những địa chỉ giáo dục truyền thống và là những sản phẩm du lịch có sức thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, theo tôi cần ưu tiên thực hiện một số vấn đề sau:

1. Tăng cường đầu tư kinh phí để nghiên cứu trùng tu tôn tạo các di tích trọng điểm theo đúng Luật Di sản văn hoá và pháp luật hiện hành. Trước mắt, cần tiến hành khảo cổ học các địa điểm di tích để có sự đánh giá đúng về các giá trị thuộc tính của di sản cũng như độ tin cậy của các nguồn thông tin; tuỳ theo bản chất của từng di tích, bối cảnh văn hoá và sự vận động của nó qua thời gian mà kiểm định tính nguyên gốc có thể gắn với lượng giá trị của một sự đa dạng lớn các nguồn thông tin. Các nguồn thông tin này có thể bao gồm các mặt như kiểu dáng và thiết kế, vật liệu và chất liệu, chức năng và tác dụng, truyền thống và kỹ thuật, địa điểm và cảnh quan, tinh thần và tình cảm, các yếu tố bên ngoài và bên trong khác. Từ các nguồn thông tin này cho phép chúng ta xây dựng những qui hoạch tổng thể và từng bước thực hiện các dự án đơn lẻ nhằm bảo tồn, tôn tạo các di tích trên thành những sản phẩm văn hoá có giá trị cao.

2. Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan chuyên môn, các ban ngành trong tỉnh, các địa phương có di tích trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị nhiều mặt của di sản văn hoá trên địa bàn. Chính quyền các cấp phải có trách nhiệm đối với các di sản văn hoá trên địa bàn mình quản lý, xoá bỏ hiện tượng thương mại hoá các hình thức dịch vụ văn hoá ở di tích. Quản lý thống nhất và có hiệu quả các nguồn thu như vé tham quan di tích; hòm công đức; tiền lễ trên các ban thờ, các dịch vụ trông giữ ô tô xe máy và hàng quán trong khu vực di tích v.v.. để tái đầu tư cho di tích cũng như có cách phân bổ hợp lý nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước cũng như của cá nhân những người tham gia các dịch vụ. Ưu tiên đầu tư kinh phí cho việc tu bổ, tôn tạo chống xuống cấp các di tích lịch sử có giá trị đặc biệt quan trọng. Đầu tư vốn xây dựng cơ bản để tu bổ, tôn tạo các di tích có giá trị, có khả năng thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. 

3. Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, nắm vững đường lối, chính sách và chủ trương của Đảng, Nhà nước và của tỉnh, có trách nhiệm cao và kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm trong tu bổ, tôn tạo di tích. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ cơ sở, đặc biệt là những người trực tiếp trông nom di tích để họ có thể truyền đạt những thông tin chuẩn xác có giá trị tới mọi tầng lớp nhân dân và khách thập phương.      

4. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị nhiều mặt của di tích, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đời sống tinh thần của nhân dân. Đặc biệt là huy động được sự đóng góp của toàn xã hội và tranh thủ nguồn tài trợ quốc tế cho việc tu bổ tôn tạo di tích. Tạo điều kiện nhằm đưa quần chúng trở thành lực lượng vừa trực tiếp tham gia bảo vệ, phát huy tác dụng di tích, vừa trực tiếp được hưởng thụ thành quả của các hoạt động đó.   

5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng của di sản văn hoá nói chung và các di tích trọng điểm nói riêng. Đầu tư nghiên cứu để làm rõ những thuộc tính, đặc biệt là “tính thiêng” vốn có của di tích, trên cơ sở đó vận dụng những nguyên tắc của khoa học bảo tồn, những thành tựu của khoa học kỹ thuật để xây dựng chính sách, chế độ phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích. 

Ngày nay, đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang phát triển mạnh mẽ, nhu cầu hưởng thụ các giá trị di sản văn hoá của nhân dân và du khách ngày càng cao. Các di tích lịch sử văn hoá sẽ là một trong những yếu tố quan trọng khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc và đang trở thành nguồn tài nguyên vô giá phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế du lịch. Bởi vậy, ưu tiên đầu tư thoả đáng cho các dự án bảo tồn tôn tạo di tích là công việc cần thiết nhằm giữ gìn những tài sản văn hoá có giá trị, những sản phẩm du lịch đặc thù có sức thu hút du khách trong nước và quốc tế đến với Quảng Ninh, đến với Việt Nam...

Cùng chuyên mục