Việt Nam hiện đang trong giai đoạn ''cơ cấu dân số vàng" - cụm từ này rất thường được dư luận nhắc đến trong thời gian gần đây. Vậy, cơ cấu dân số vàng là gì? Những cơ hội và thách thức của nó ra sao?
(Ông Lê Minh Hải, Phó Giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số tỉnh, trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh) Trao đổi với chúng tôi về điều này, ông Lê Minh Hải nói: Ông Lê Minh Hải. + Từ cuộc Tổng điều tra dân số đầu tiên (năm 1979) đến nay, bức tranh dân số nước ta đã thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là cơ cấu dân số theo tuổi. Tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động từ 50% tăng lên 66%, còn tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi từ 43% đã giảm xuống còn 25%. Và như chị biết đấy, tỷ số phụ thuộc được xác định theo công thức: Dân số không hoạt động kinh tế/ dân số hoạt động kinh tế (tính theo đơn vị phần trăm). Cho nên, từ kết quả điều tra dân số trên, cũng có thể nói, tỷ số phụ thuộc đã có sự thay đổi đáng kể. Nói một cách dễ hiểu hơn, khi tỷ số phụ thuộc là 100%, số người không hoạt động kinh tế (tức số người phụ thuộc) bằng với số người hoạt động kinh tế. Và như vậy mỗi một người lao động sẽ phải ''nuôi'' thêm một người phụ thuộc. Nhưng khi tỷ số phụ thuộc giảm xuống còn 50%, số người hoạt động kinh tế nhiều gấp đôi số người phụ thuộc, do đó hai người lao động mới phải nuôi thêm một người phụ thuộc. Đến lúc này, cơ cấu dân số được gọi là cơ cấu dân số vàng... - Ý ông là cơ cấu dân số Việt Nam hiện nay đang là cơ cấu dân số vàng. Điều này có gì hay, thưa ông? + Quá trình diễn ra cơ cấu dân số vàng có một số đặc điểm, như: Trẻ em giảm mạnh cả về số lượng và tỷ lệ; dân số trong độ tuổi lao động tăng lên nhanh chóng và dân số ngày càng già đi (tức tỷ lệ người cao tuổi trong dân số tăng lên). Theo kết quả các cuộc tổng điều tra dân số, tỷ số phụ thuộc của Việt Nam đã giảm từ 89,5% (năm 1979) xuống 77,3% (năm 1989), 64,7% (năm 1999) và chỉ còn 46,3% (năm 2009). Như vậy, chúng ta đã bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng. Thực ra, chúng ta đã có cơ cấu dân số vàng từ năm 2006, khi tỷ số phụ thuộc chỉ còn 49,9%. Cơ cấu dân số vàng là cách nói hình ảnh để chỉ một cơ cấu dân số theo độ tuổi có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Cơ cấu này rất hiếm gặp. Nó chỉ xuất hiện một lần và kéo dài trong khoảng 30 đến 40 năm trong quá trình phát triển của một cộng đồng dân cư. Bởi vậy, nó đúng là quý và hiếm như vàng... - Nói cụ thể hơn, cơ cấu dân số vàng đưa đến cơ hội gì cho chúng ta? + Thời kỳ cơ cấu dân số vàng nếu được tận dụng tốt sẽ trở thành cơ hội vàng cho sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội của đất nước. Trước hết là các cơ hội hiển nhiên về kinh tế. Cơ cấu dân số vàng cung cấp cho nước ta một lực lượng lao động trẻ dồi dào, phục vụ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là giai đoạn then chốt 2011-2020, khi chúng ta đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp và được xếp vào hàng các nước có thu nhập trung bình. Với chi phí nhân công thấp và lực lượng lao động lớn,Việt Nam có thể giành được thế cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế. Nếu lao động có trình độ cao, chúng ta sẽ trở thành một đối tác lao động sản xuất với thế cạnh tranh tốt hơn nữa. Thêm vào đó, nếu duy trì được tỷ lệ người có công ăn việc làm cao thì lợi tức gặt hái được từ cơ cấu dân số vàng cũng sẽ cao do Nhà nước thu được nhiều thuế hơn và từ đó có thể tái đầu tư vào các lĩnh vực khác của đời sống. Điều này có nghĩa là, nếu thời kỳ cơ cấu dân số vàng được tận dụng tốt, nó vừa đem lại tăng trưởng thần kỳ về kinh tế, vừa tái đầu tư cho chính nhóm dân số vàng và hệ quả phát triển kinh tế còn có thể được nhân lên hơn nữa. Thứ hai, dân số vàng nếu được đảm bảo về quy mô, cơ cấu và chất lượng sẽ tạo ra những cơ hội rất lớn cho Việt Nam về an sinh xã hội, đặc biệt là nó giúp tăng quỹ an sinh xã hội ở tốc độ chưa từng thấy. Ngoài ra, nó còn làm cho việc làm phát triển về mọi mặt (số lượng, chất lượng, hình thức, quy mô việc làm). Một cơ hội nữa có thể là nếu thời kỳ này được phát triển hiệu quả thì chi phí an sinh sẽ ở mức thấp nhất so với thời kỳ dân số trẻ và thời kỳ dân số già. - Thế còn những thách thức mà nó mang đến thì sao, thưa ông? + Tất nhiên cái gì cũng có mặt trái của nó. Thách thức của cơ cấu dân số vàng cũng rất nhiều. Chẳng hạn, trong những năm tới, Việt Nam phải đối mặt và giải quyết các vấn đề về dân số như: quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số. Về quy mô dân số: Nước ta là một nước có quy mô dân số lớn, chứa đựng những nguy cơ tăng dân số trở lại, đồng thời cũng có khả năng làm cho mức sinh giảm xuống quá thấp. Điều này có thể dẫn đến phá vỡ cơ cấu dân số, làm cho tỷ số phụ thuộc trẻ em có khả năng tăng trở lại (gia tăng chi trả về chăm sóc sức khoẻ) hoặc tỷ số phụ thuộc trẻ em quá thấp (ảnh hưởng tới lực lượng lao động tương lai). Về cơ cấu dân số: Dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh cả về tỷ trọng lẫn số lượng và tạo ra những áp lực về việc làm. Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh và liên tục sẽ tác động xấu tới trật tự, an ninh xã hội, gây khó khăn cho việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai. Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng cùng với bối cảnh mức sinh thấp, quy mô gia đình nhỏ đòi hỏi phải có các mô hình chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi ngày càng bức thiết. Chất lượng dân số còn hạn chế, chỉ số phát triển con người từng bước được cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp. Điều này làm cho chất lượng và thành quả lao động không ổn định và không bền vững, tai nạn lao động gia tăng. Thứ hai, tăng lĩnh vực lao động, Việt Nam đang đứng trước áp lực cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực, việc làm, thị trường lao động trong khu vực và trên thế giới. Nguồn nhân lực của Việt Nam chủ yếu xuất phát từ nông thôn nên thiếu tác phong công nghiệp, đại đa số chưa qua đào tạo nghề hoặc trình độ tay nghề thấp. Vì vậy, nếu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều việc làm thì lực lượng lao động cũng không đáp ứng được thị trường lao động và thất nghiệp vẫn gia tăng. Thứ ba, quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong những năm gần đây cho thấy, tăng trưởng kinh tế đi đôi với rủi ro rất cao. Trước hết là vấn đề lạm phát. Nó sẽ làm cho người dân mất đi một phần thu nhập và một số hộ cận nghèo sẽ được bổ sung vào danh sách số hộ nghèo. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế cũng làm cho môi trường bị ô nhiễm, bệnh tật nhiều, sức khoẻ giảm sút, các tệ nạn xã hội phát triển. Các yếu tố trên ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dân số nói chung và chất lượng nguồn nhân lực nói riêng... - Đó là nói về quy mô cả nước. Còn với Quảng Ninh thì sao, thưa ông? + Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số tỉnh Quảng Ninh là 1.144.381 người và tỷ số phụ thuộc là 45,5%, tức là cứ 2,2 người làm việc nuôi một người phụ thuộc. Quảng Ninh là một đỉnh trong tam giác phát triển kinh tế các tỉnh phía Bắc. Quảng Ninh cũng có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội và trong những năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh đã có những bước phát triển to lớn. Để hoàn thành các mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII đề ra cũng như Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và các năm tiếp theo, chúng ta cần nắm vững các cơ hội mà cơ cấu dân số vàng đem lại, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và vượt qua thách thức, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực mà nó có thể mang lại thì chúng ta mới có thể tận dụng thành công ''cơ hội vàng'' này. - Ông có thể nói cụ thể hơn về những giải pháp để tận dụng những cơ hội mà cơ cấu dân số vàng mang tới? + Để phát huy những cơ hội và trải qua những thách thức mà cơ cấu dân số vàng mang lại, chúng ta cần quan tâm đến các giải pháp, như: Chủ động xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội một cách đồng bộ và nhất quán, đặc biệt và các chính sách về giáo dục, đào tạo; phát triển việc làm; an sinh xã hội cho người cao tuổi. Tuyên truyền, giáo dục để người dân cũng nắm bắt cơ hội, tích cực học tập, nâng cao tay nghề và lao động. Giáo dục phổ thông cần chuyển từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng. Tạo mọi điều kiện, khuyến khích các thành phần kinh tế được tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo, nhanh chóng nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật; phát triển việc làm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về lao động và tăng xuất khẩu. Xây dựng một thị trường lao động dịch chuyển linh hoạt, hài hòa quan hệ lao động cùng hệ thống an sinh xã hội có hiệu lực. Tái cấu trúc nền kinh tế, toàn diện lao động. Chúng ta cần tiếp tục phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động; phát triển nông thôn, hiện đại hơn nông nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần quan tâm phát triển các ngành nghề đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao để đối phó với nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực trong tương lai do già hoá dân số. Củng cố và hoàn thiện hơn nữa mạng lưới y tế cơ sở cả về vật chất, trang thiết bị và cán bộ, đề cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ thầy thuốc để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Xây dựng và thực thi chính sách, chiến lược quốc gia về an sinh xã hội nhằm đối phó với xu hướng già hoá dân số. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học; tiếp cận, ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ sinh học và công nghệ thông tin... - Còn riêng về ngành dân số, chúng ta phải làm gì để vừa tận dụng được cơ hội nhưng cũng hạn chế được thách thức? + Thời kỳ cơ cấu dân số vàng chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Nó dài hay ngắn phụ thuộc vào mức sinh thấp nhất (tính bằng số con trung bình trên một người phụ nữ: TFR) mà chúng ta có thể đạt được. Nếu TFR là 1,8 con, thời kỳ cơ cấu dân số vàng có thể kéo dài 39 năm. Nếu TFR là 1,6 con, thời kỳ này kéo dài được 42 năm và nếu TFR là 1,4 con, chúng ta có thể giữ được thời kỳ cơ cấu dân số vàng đến 45 năm. Như vậy, để kéo dài thời kỳ cơ cấu dân số vàng trước hết chúng ta cần tiếp tục giảm sinh - giảm quy mô dân số. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên để cho mức sinh tụt xuống quá thấp. Kinh nghiệm các nước cho thấy, nếu để mức sinh xuống quá thấp thì dân số sẽ quá già và việc kéo tỷ suất sinh tăng trở lại là cực kỳ khó khăn. Bên cạnh đó, chúng ta cần quan tâm hơn tới cơ cấu dân số, mà trước hết là cơ cấu giới. Hiện nay, tỷ số giới khi sinh của Việt Nam khá cao. Vì thế, nếu không giải quyết tốt vấn đề này thì trong tương lai sẽ có một lượng lớn nam thanh niên không có khả năng lấy được vợ là người Việt Nam (cười). Về mặt chất lượng dân số, chúng ta cần quan tâm trước hết đến sức khoẻ người dân, cả về mặt thể chất và tinh thần. Để làm được điều này cần triển khai hàng loạt các hoạt động như: Sàng lọc trước sinh và sơ sinh; nâng cao chất lượng công tác y tế, cả phòng bệnh cũng như chữa bệnh; quan tâm đến các đối tượng đặc thù như: Vị thành niên, thanh niên, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, người cao tuổi, người khuyết tật... Như vậy, chúng ta cần một hệ thống các giải pháp đồng bộ trong lĩnh vực công tác dân số nhằm giải quyết tốt cả 4 lĩnh vực của công tác này: Quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số và phân bố dân cư. Trước mắt chúng ta phải tập trung giải quyết bằng được vấn đề quy mô dân số. Đây là cơ sở để tạo nên và kéo dài thời kỳ cơ cấu dân số vàng. Đồng thời, chúng ta cũng cần quan tâm giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực cơ cấu và chất lượng dân số... Tôi nghĩ nếu làm được những điều đó, có thể nói, chúng ta hoàn toàn có khả năng tận dụng ''cơ cấu dân số vàng'' để thu được ''kim cương''...
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!