Nghe nói ở thủ đô Hà Nội từng có cả một triển lãm chuyên về tranh thờ. Còn ở Quảng Ninh hình như tranh thờ vẫn chưa mấy được để ý. Chính vì thế, khi gặp anh, tôi thấy thật bất ngờ và thú vị.
Anh Lê Hồng Văn
- Công việc vẽ tranh thờ cho đồng bào người Dao không phải tự nhiên đến với anh?
- Đúng thế. Tôi là người quê ở Phú Xuyên, Hà Tây. Sau khi rời quân ngũ trở về, gia đình khó khăn quá nên chuyển đến Đồng Lâm (Hoành Bồ) làm ăn sinh sống. Trước đây, ông nội tôi làm cai ở vùng Thái Nguyên, Yên Bái. Do đó, bố tôi có điều kiện được học chữ Nho; đồng thời, được tiếp xúc với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc. Do có chút hoa tay nên bố tôi được bà con thuê vẽ tranh thờ. Cả cuộc đời ông đã đi khắp các tỉnh miền núi phía Bắc để vẽ thuê. Mỗi nơi ông ở lại vài tuần, có khi là cả tháng. Chúng tôi chuyển đến Đồng Lâm cũng là vì ngày trước ông cụ có vẽ tranh thuê ở vùng này nên có nhiều bạn bè, người quen. Năm 1998, bố tôi qua đời, chỉ để lại một quyển sổ nhỏ, chép lại mẫu những bức tranh thờ của các dân tộc như: Dao, Tày, Sán Chỉ, Cao Lan… Tôi không phải là người đặc biệt có năng khiếu vẽ nên mấy năm chẳng dám theo nghề bố. Mãi năm 2000, cũng vì lý do kinh tế, nên tôi đã nhận vẽ tranh thuê cho một số gia đình trong xã.
- Như vậy, anh vẽ tranh thờ là vì lý do kinh tế nhiều hơn?
- (Cười) Trước đây thì đúng là như vậy. Bố con tôi tới vùng này chẳng có gì trong tay. Tôi làm rể đất này, được gia đình và làng xóm giúp đỡ rất nhiều nhưng vẫn khó khăn lắm. Hồi ấy, gia đình tôi sống khá chật vật. Do đó thỉnh thoảng tôi có nhận vẽ tranh, vừa để giữ lại nghề của bố, cũng vừa để có thêm thu nhập cho gia đình.
- Thế còn bây giờ?
- Bây giờ thì khác nhiều lắm. Kinh tế gia đình khá hơn, tôi có điềukiện và thời gian đầu tư vào việc vẽ tranh hơn. Nhưng, dù là vẽ với mục đích nào, tôi cũng làm cẩn trọng và dần dần đúc rút kinh nghiệm để vẽ được những bộ tranh ưng ý nhất.
- Vẽ được tranh thờ, chắc anh rất hiểu phong tục, tập quán dùng tranh của bà con dân tộc?
- Tôi là người Kinh, làm rể đồng bào người Dao từ khi còn trẻ nên có lẽ đã thành người Dao rồi (cười). Tranh thờ được dùng chủ yếu vào các ngày lễ đặc biệt như cấp sắc (còn gọi là phùn voòng hoặc bàn cổ), làm lễ chay cho người mới qua đời v.v. Trong đó, lễ cấp sắc rất quan trọng. Theo phong tục của người Dao, tất cả đàn ông đến tuổi trưởng thành đều phải làm lễ cấp sắc. Có như thế, sau này chết mới được lên thiên đàng, mới được người sống làm giỗ to. Làm lễ cấp sắc phải mời thầy cúng. Và đối với mỗi thầy cúng trong các buổi lễ ấy, tranh thờ là vật không thể thiếu. Thầy cúng nào mang đủ bộ 12 bức tranh thờ đến nhà gia chủ làm lễ, người ấy sẽ được khoản đãi hậu hơn. Còn trong các gia đình, dòng họ hầu như nhà nào cũng có một bộ tranh để thờ cúng thần thánh, tổ tiên. Đây là một phong tục văn hoá đẹp của đồng bào người Dao, rất cần được lưu giữ.
- Vậy vẽ tranh thờ khác với vẽ tranh thường thế nào, thưa anh?
- Tranh thờ mang sắc thái và giá trị thẩm mỹ rất riêng. Tranh có lối bố cục hẹp, dày đặc các nhân vật thần linh. Bức tranh nhiều nhất có tới 120 nhân vật thần chủ, ngoài ra còn có voi, ngựa, cờ lọng… Các nhân vật thần chủ này lại tuân theo một qui tắc xã hội: Nhân vật nào có quyền năng lớn được vẽ to, chiếm vị trí trung tâm; các thần ít quyền năng hơn thì được vẽ đơn giản, và nhỏ hơn. Trước đây, các chất liệu phổ biến làm ra loại tranh này bao gồm: Đất và hỗn hợp đá, thảo mộc và nhựa thông. Màu sắc tranh thờ là màu tự nhiên như: Đỏ, vàng, trắng, đen, xanh lá cây. Hiện nay, tôi vẽ tranh thờ trên giấy tốt, sau đó bồi lại, bọc vải cẩn thận để giữ độ bền cho tranh.
- Theo anh, điều khó nhất khi vẽ tranh thờ là gì?
- Tôi bước vào nghề này đến nay đã 7, 8 năm. Vẽ một bộ tranh thờ rất công phu, trải qua nhiều công đoạn, có khi mất hơn một tháng trời. Cái khó đầu tiên là sao chép lại. Do bố tôi chép tranh vào quyển sổ chỉ nhỏ bằng nửa trang giấy học trò, nên khi sao ra bức tranh lớn, không tránh khỏi sự sai lệch. Để tránh việc này, tôi đã sao ra bức tranh to, chính xác nhất để làm tranh mẫu cho những lần sau. Điều thứ hai là cách pha màu, tô màu cho tranh. Trước đây, giấy và màu tô lên tranh đều là những màu lấy từ chất liệu dân gian như: Giấy làm từ lá dâu tằm, từ một số loại cây gai trên rừng hoặc giấy xuyến chỉ của Trung Quốc, mực tàu, vàng lá, bạc, mật ong, mỡ gà v.v. Do đó, có bức tranh giữ được hàng trăm năm mà vẫn nguyên màu sắc tươi tắn, sặc sỡ. Tôi đang cố gắng pha màu để giữ lại màu cơ bản, màu tự nhiên truyền thống trong tranh thờ.
- Tôi chỉ thấy anh vẽ tranh thờ của đồng bào dân tộc Dao?
- Trước tiên vì tôi sống ở một xã có đông đồng bào dân tộc Dao sinh sống, hơn nữa người Dao ở tỉnh ta cũng chiếm tỉ lệ rất cao, chỉ sau người Kinh. Thứ hai, người Dao coi trọng truyền thống thờ tranh hơn các dân tộc ít người khác, hầu như dòng họ nào cũng phải có một bộ. Nếu không có thì phải dành dụm tiền của để mua về thờ cúng tổ tiên. Còn các dân tộc khác như: Sán Dìu, Tày, Sán Chỉ, Cao Lan… cũng có tranh, nhưng truyền thống thờ tranh có lẽ đang dần bị mai một. Bố tôi trước đây có hoạ lại tranh thờ của những dân tộc này, nhưng đến nay hầu như không thấy có ai đến nhờ, thuê tôi vẽ cả.
- Như vậy, bà con người Dao rất coi trọng tranh thờ. Họ thể hiện điều đó như thế nào?
Bộ tranh Quan Văn - Quan Võ do anh Văn vẽ.
- Người Dao coi tranh thờ quan trọng như vậy, chắc hẳn người vẽ tranh cũng phải được họ tin cậy?
- Vâng, tôi nghĩ thế. Người vẽ ngoài việc phải biết vẽ tranh và vẽ đẹp, còn phải có thầy truyền nghề. Đây là điều quan trọng nhất. Tôi không phải là người Dao, nhưng có bố truyền nghề cho nên được nhiều người tin tưởng tìm đến đặt làm tranh.
- Khách đến đặt tranh do anh vẽ là những ai? Và anh đã vẽ được bao nhiêu bộ tranh rồi?
- Đa số họ là bà con trong xã, trong huyện. Cũng có một số người nơi khác đến nhưng không nhiều. Do vẽ tranh phải chú tâm từng chi tiết, từng nét vẽ, cẩn trọng từ cách pha màu, tô màu đến bồi, bọc vải cho tranh nên mất khá nhiều thời gian. Từ hồi vào nghề đến giờ, tôi vẽ được khoảng gần 30 bộ tranh lớn nhỏ.
- Và anh rút ra được nhiều kinh nghiệm?
- Đúng thế. Bây giờ tôi chú trọng nhiều đến kỹ thuật và nội dung của tranh. Mỗi lần vẽ là một lần tôi tìm ra cho mình một điều mới mẻ: Thường một bức tranh phải tô 3 lượt màu trở lên mới bền, đẹp; những chữ Hán người xưa viết trên tranh phải tìm nghĩa và viết thật chính xác; cách pha màu ra sao cho thật tự nhiên, đúng với màu tranh cổ truyền, màu tranh nguyên thuỷ… Riêng về việc pha màu, tôi vẫn đang tìm cách để đạt được màu tự nhiên, nhưng hơi khó vì bây giờ chúng ta toàn dùng màu hoá chất, không còn màu chế từ cây, lá v.v. như xưa.
- Điều anh trăn trở nhất với việc vẽ tranh thờ là gì?
- Tôi vẫn dành nhiều thời gian, công phu tìm ra những kỹ thuật để vẽ tranh thờ đúng với truyền thống nhất nhằm lưu giữ lại những tinh hoa, những nét đặc sắc trong đời sống văn hoá, tinh thần của đồng bào dân tộc Dao. Thêm vào đó, tôi cũng lo việc thất truyền nghề này. ở nhiều nơi, người ta đã tổ chức sưu tầm, triển lãm tranh thờ của các dân tộc, còn tỉnh ta tôi chưa thấy hoạt động này. ở Quảng Ninh, như tôi được biết chỉ có chưa đến 5 người hiện đang vẽ được tranh thờ nhưng không mấy ai coi việc vẽ tranh thờ là cần phải được đầu tư, nghiên cứu, giữ gìn và phát huy. Sự thống nhất ở các bức tranh do mỗi người vẽ là không giống nhau, đây là điều rất đáng tiếc. Hơn nữa, có gia đình vì nhiều lý do đã bán tranh thờ cho những người sưu tầm, những người giàu, lại có cả hiện tượng mất trộm tranh thờ như ở xã Tân Dân (Hoành Bồ) mấy năm về trước. Nếu không có ý thức giữ gìn và phát huy, sợ rằng vài chục năm nữa, sẽ không còn ai biết vẽ tranh thờ, điều này đồng nghĩa với việc tranh thờ và truyền thống thờ tranh - nét văn hoá đặc sắc của người dân tộc Dao sẽ ngày càng mai một, giống như một số dân tộc khác ở Quảng Ninh hiện nay…