(Ông Đặng Hữu Bình, Giám đốc Trung tâm Công tác xã hội Quảng Ninh, trao đổi với phóng viên Báo Quảng Ninh)
Công tác xã hội (CTXH) là một loại hình hoạt động chuyên nghiệp trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết các hệ lụy, vấn đề xã hội nhằm giảm bất bình đẳng và mâu thuẫn trong xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Hiện tại, với tư cách là một nghề được Nhà nước công nhận về mặt pháp lý, CTXH ngày càng đóng vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc tham gia giải quyết những vấn đề về an sinh trong cộng đồng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đánh giá về sự phát triển của nghề CTXH trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua, ông Đặng Văn Bình, Giám đốc Trung tâm Công tác xã hội Quảng Ninh, nói:
+ Quảng Ninh có quy mô dân số trên 1,1 triệu người và là tỉnh có nhiều đô thị nhất Việt Nam (gồm 4 thành phố và 1 thị xã). Với những lợi thế về cảng biển, biên giới và tài nguyên, Quảng Ninh là nơi giao hội nhiều thành phần kinh tế dẫn đến sự đa dạng và phức tạp trong các vấn đề xã hội. Do đó, nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH cũng ngày một tăng cao. Hiện tại, theo thống kê, các đối tượng được coi là “yếu thế” cần sự trợ giúp ở tỉnh ta là 175.758 người (gồm 24.880 đối tượng bảo trợ xã hội, 11.750 người cao tuổi; 5.003 người tàn tật; 1.747 người mắc bệnh tâm thần; 4.259 người hưởng trợ cấp chất độc hoá học và con đẻ của họ; 4.882 thương binh; 3.432 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; 41.805 trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và 78.000 người thuộc hộ nghèo và cận nghèo). Thực trạng trên đòi hỏi cần có những dịch vụ CTXH chuyên nghiệp để có thể giải quyết các vấn đề này một cách khoa học và hiệu quả nhằm thúc đẩy an sinh xã hội…
- CTXH là một nghề còn khá mới mẻ nên nhìn chung nhận thức và tiếp nhận của cộng đồng còn chưa đầy đủ. Vậy để nghề CTXH phát huy được hết hiệu quả của nó, Trung tâm đã thực hiện những giải pháp gì, thưa ông?
+ Để nâng cao sự hiểu biết của cộng đồng, Trung tâm đã chú trọng đẩy mạnh công tác truyền thông với việc tích cực đổi mới, đa dạng hoá về nội dung dưới nhiều hình thức: Pano, áp phích, tờ rơi, sách tuyên truyền… Do người dân chưa có thói quen sử dụng dịch vụ CTXH nên Trung tâm cũng đã cử nhân viên CTXH chủ động đến với cộng đồng để cung cấp các dịch vụ, lồng ghép với công tác tuyên truyền, tư vấn, kết nối, can thiệp và hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng tại cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Bên cạnh đó, để hoạt động CTXH đạt hiệu quả, chúng tôi đã tập trung xây dựng và phát triển lực lượng cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH gắn với đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực. Theo đó, ở mỗi thôn, bản, khu phố trên địa bàn tỉnh đều có 1 cộng tác viên CTXH. Trong quá trình thực hiện, nhận thấy việc triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH chỉ thực hiện tập trung ở tuyến tỉnh là chưa đủ bởi các đối tượng yếu thế và các vấn đề xã hội cần được can thiệp chủ yếu xảy ra ở tuyến cơ sở. Hơn nữa, không phải đối tượng yếu thế nào trong cộng đồng cũng có cơ hội và điều kiện tiếp cận các đơn vị cung cấp dịch vụ CTXH ở tuyến tỉnh. Vì vậy, năm 2012, chúng tôi đã triển khai thực hiện xây dựng thí điểm mô hình Hệ thống CTXH tại huyện Tiên Yên, TX Quảng Yên, TP Hạ Long và TP Móng Cái (mỗi địa phương xây dựng 1 văn phòng CTXH cấp huyện, 2 văn phòng cấp xã, 1 văn phòng CTXH trong trường học) với tổng số cán bộ, nhân viên chuyên trách và kiêm nhiệm là 75 người. Việc triển khai thí điểm hệ thống Văn phòng CTXH các cấp đã góp phần xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH đến gần với cộng đồng, thân thiện và thiết thực hơn đối với người dân. Đồng thời, đây cũng là tiền đề, cơ sở cho việc phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH trên phạm vi toàn tỉnh theo chương trình Đề án phát triển CTXH giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là Đề án 32)…
- Trên cơ sở Đề án 32, đến nay việc phát triển nghề CTXH đã đạt được những kết quả gì, thưa ông?
+ Qua hơn 3 năm thực hiện Đề án 32, có thể nói, nghề CTXH ở Quảng Ninh đã có những chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. 100% các trường hợp đối tượng và gia đình đối tượng có nhu cầu hoặc trong trường hợp khẩn cấp, đều được can thiệp, giúp đỡ, tư vấn, hỗ trợ giải quyết và được kết nối với các dịch vụ hỗ trợ một cách thiết thực. Nhận thức của cộng đồng về nghề CTXH cũng đã được nâng cao hơn, một số dịch vụ CTXH đã được thực hiện tại cộng đồng để cung cấp và giải quyết các nhu cầu, đáp ứng được mong muốn và nguyện vọng của các đối tượng. Chỉ tính riêng trong năm 2013, Trung tâm đã tiến hành can thiệp, hỗ trợ và kết nối cho 200 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và 600 đối tượng yếu thế. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã tổ chức 60 hội nghị truyền thông về nghề CTXH cho 4.800 đối tượng tại các địa phương; 30 hội nghị truyền thông có nội dung về phòng chống tệ nạn xã hội; triển khai thực hiện hoạt động gặp gỡ, thu thập thông tin, tư vấn và lập hồ sơ quản lý ban đầu cho 58 học sinh Quảng Ninh vi phạm pháp luật đang học tập, tu dưỡng tại Trường Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình… Bên cạnh đó, Trung tâm cũng đã xây dựng và hoàn thiện kế hoạch cũng như thực hiện có hiệu quả mô hình cá nhân, gia đình nhận nuôi có thời hạn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hay mô hình “Cà phê tư vấn”, mô hình “Tâm lý trị liệu trẻ em rối nhiễu tâm trí” tại các xã, đảo trên địa bàn huyện Vân Đồn v.v..
- Trong quá trình tiến hành các hoạt động này, Trung tâm có gặp nhiều khó khăn không, thưa ông? Khó khăn lớn nhất là gì?
+ Với Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25-3-2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020, bước đầu CTXH đã được công nhận là một nghề ở Việt Nam. Đây chính là tiền đề, là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển hệ thống bộ máy tổ chức, hoàn thiện hành lang pháp lý cho nghề CTXH ở nước ta. Tuy nhiên, thời gian qua, nghề CTXH đã bộc lộ nhiều bất cập. Mặc dù chúng ta đã có văn bản quy định, hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội, nhưng lại chưa có các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý để thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm CTXH; đặc biệt là chức năng can thiệp - hỗ trợ. Chính vì vậy, khi thực hiện nhiệm vụ can thiệp trong trường hợp khẩn cấp, ngoài việc tư vấn và kết nối với các cơ quan chức năng thì những người làm CTXH cũng không thể làm gì hơn. Ngoài ra, đối với hoạt động hỗ trợ cũng vậy, cán bộ CTXH cũng chưa có cơ sở để có thể đưa ra quyết định cụ thể việc cung cấp dịch vụ nào phù hợp và có hiệu quả cho đối tượng. Ví dụ như: Trong trường hợp cha mẹ có hành vi bạo hành với con cái, vì lợi ích của đứa trẻ, cán bộ CTXH có thẩm quyền tạm thời tước quyền chăm sóc đứa trẻ đó của cha mẹ nó hay không? Có được quyền tạm thời giao đứa trẻ cho gia đình mở rộng hoặc cá nhân, gia đình khác đủ điều kiện chăm sóc hay không?... Tóm lại, từ thực tiễn khi thực hiện can thiệp hỗ trợ, chúng tôi thấy để công tác này phát huy hiệu quả, rất cần có những quy định cụ thể như nội dung can thiệp - hỗ trợ, phạm vi, mức độ can thiệp - hỗ trợ đến đâu, lấy gì để can thiệp - hỗ trợ, nội dung phối hợp là gì và như thế nào v.v.. Có giải quyết triệt để được những vấn đề này thì nghề CTXH mới thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình.
- Hiện tại, hệ thống Văn phòng CTXH các cấp được triển khai thí điểm đã mang lại hiệu quả trong hoạt động CTXH. Vậy, trong thời gian tới, mô hình này có được nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh không, thưa ông?
+ Trong thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục thành lập và đưa vào hoạt động 7 Trung tâm CTXH cấp huyện; 28 văn phòng CTXH cấp xã; 21 văn phòng trong trường học và 4 văn phòng trong bệnh viện. Việc thành lập hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH ở cơ sở sẽ tạo cơ hội cho người dân tiếp cận dễ dàng hơn với dịch vụ CTXH. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh về nghề CTXH; bố trí mỗi xã, phường, thị trấn có 1 nhân viên CTXH. Đồng thời, tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cộng tác viên CTXH ở thôn, bản; 50% xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh có nhân viên xã hội chuyên trách…
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!
Hoàng Anh (thực hiện)