Cất giọng khê đặc bởi khói thuốc, ông Lỷ Chăn Sòi (Bản Danh, Hà Lâu, Tiên Yên) lơ lớ nói với chúng tôi: “Giờ chúng tao ưng cái bụng rồi nên không để con, cháu thất học đâu”.
Nghe vậy, những thầy giáo đi cùng tôi mỉm cười vui sướng, mãn nguyện. Tôi hiểu, để có nụ cười hạnh phúc ấy, họ đã phải đổi bằng rất nhiều mồ hôi, nước mắt và cả tuổi thanh xuân phơi phới...
Giáo viên Trường PTCS Hà Lâu thường xuyên phải trèo đèo...
Những người đi “cắm bản”
Trước khi đến bản Bản Danh, một trong những bản mà theo cách nói hình ảnh của các giáo viên trẻ ở Hà Lâu là “bản xương xẩu” nhất (xa nhất, khó khăn nhất) của tỉnh, tôi đã nai nịt cho mình khá kỹ càng. Nào là quần bò, áo thụng, giầy thể thao và một túi đựng đồ nghề không thể giản tiện hơn được nữa. Thế mà anh bạn tôi vẫn bụm miệng cười và nhắc nhở: “Tốt nhất là đi dép lê và mặc quần ống rộng để còn có thể sắn được khi phải lội qua suối”. Nghe vậy, tôi mượn tạm đôi dép lê để lên đường.
Thầy giáo Vi Đức Phúc, Hiệu trưởng Trường PTCS Hà Lâu là người dân tộc Tày gốc Tiên Yên. Trong 22 năm làm nghề, anh có tới 16 năm làm cán bộ quản lý, nhưng nơi mà anh gắn bó là Trường PTCS Phong Dụ. Anh mới được luân chuyển về Hà Lâu chưa đầy 5 tháng, nhưng không có thôn bản nào ở Hà Lâu là anh chưa đến. Có những thôn, bản ở xa như Bản Danh, Nà Hắc anh vào đến 3-4 lần. Vì thế tôi không mấy ngạc nhiên khi anh rành rọt giới thiệu: “Bản Danh cách trung tâm xã Hà Lâu khoảng 12 cây số. So với mấy tháng trước, giờ đường dễ đi hơn rồi. Có thể đi bằng xe máy, nhưng vẫn phải đi bộ khoảng 2 cây số mới vào đến bản”.
Từ trung tâm xã, chúng tôi rẽ vào con đường rải cấp phối, vừa qua hết cây cầu treo mới được làm lại sau trận lũ quét lịch sử năm 2008 được vài trăm mét, thì bắt đầu gặp những đoạn đường khó đi. Chỗ thì nhầy nhụa bùn đất do đang làm đường, chỗ lại ổ trâu, ổ gà do bị nước xói mòn, làm cho “chú ngựa sắt” của chúng tôi cứ chồm lên rồi lại lao xuống. Đường vào Bản Danh uốn lượn men theo chân những quả đồi, như đặc trưng của tuyến đường miền Đông, có những con dốc cao chót vót không nhìn thấy đỉnh. “Huyện đang cho làm đường để vận chuyển vật liệu vào xây phòng học cho Bản Danh, Nà Hắc, nên còn dễ đi hơn nhiều rồi đấy. Chỉ cần vượt qua hết cái eo núi thứ 3 là nhìn thấy bản. Chắc đến cuối năm nay thì có đường vào đến tận Nà Hắc” - đồng chí Giáp Hồng Hạnh, Phó Chủ tịch UBND xã Hà Lâu vừa thận trọng điều khiển “con ngựa sắt” vừa trò chuyện với tôi. Đi được 1/3 quãng đường, chúng tôi gặp eo núi thứ nhất. Từ đây việc đi lại cũng khó khăn hơn. Có đoạn, chúng tôi phải dừng xe, người thì dắt, người thì đẩy… Đến eo núi thứ 2 thì xe máy không thể đi được nữa. Đưa tay chỉ cái dốc cao trước mặt, thầy giáo Vi Quốc Hùng, người đã có gần 3 năm “cắm bản” ở Bản Danh bảo: “Qua hết con dốc kia, đến cái suối, đi qua eo núi thứ 3 là đến bản rồi”. Nghe nói vậy cứ ngỡ như Bản Danh đã ở rất gần nhưng theo lời giới thiệu lúc đầu của đồng chí Hiệu trưởng thì từ đây vào đến bản vẫn còn 2 cây số nữa. Thầy giáo Hùng là người hài hước, vui vẻ. Anh sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Lâu. Yêu quê hương và thương bà con dân bản, anh đã chọn đi theo con đường sư phạm. Bằng sự nỗ lực, phấn đấu hết mình, anh đã được tín nhiệm bầu làm Phó Hiệu trưởng Trường PTCS Hà Lâu. Để nâng cao trình độ, anh đăng ký xin đi học chương trình trung học hoàn chỉnh. Hoàn thành chương trình, anh tiếp tục xung phong “cắm bản” ở điểm trường Bản Danh. 3 năm gắn bó “3 cùng” với bà con dân bản, anh đã cùng các đồng nghiệp giúp cho sự học nơi này nhiều khởi sắc. Mấy chục năm công tác, hai vợ chồng anh Hùng (vợ anh Hùng là Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Hà Lâu) tích cóp xây dựng được ngôi nhà mái bằng có gác xép. Thấy đồng nghiệp trong trường không đủ nhà công vụ để ở, anh bàn với vợ ngăn gác xép thành 2 phòng ở nhỏ để cho mấy đôi vợ chồng giáo viên của nhà trường thuê, chỉ với 100.000 đồng mỗi tháng, để anh chi trả điện, nước sinh hoạt. Nhờ đó đã giúp nhà trường giải quyết được khó khăn trong bố, trí sắp xếp nhà công vụ cho giáo viên. Các thầy, cô giáo cũng vì thế mà yên tâm công tác, cống hiến, gắn bó với sự nghiệp “trồng người”. Năm nay, thầy giáo Hùng được luân chuyển ra dạy ở điểm trường Khe Ngà - Pò Mảy, gần trường chính hơn, đường đi cũng dễ hơn. Đợt này anh cũng tham gia cùng đoàn vào Bản Danh vận động học sinh ra lớp, vận động bà con tham gia dựng phòng học mới ở bản để thay cho phòng học cũ đã xuống cấp.
Đến đâu, gặp đứa trẻ nào trong bản anh đều giục: “Chào thầy giáo!”. Anh bảo: “Trẻ con ở bản nhát lắm. Mình cứ phải chủ động nhắc như thế. Đó cũng là cách giáo dục cho các em biết lễ phép, bạo dạn hơn trong giao tiếp”. Nhìn cách bà con đón các anh bằng nụ cười và ánh mắt dễ mến khiến tôi liên tưởng tới các anh giống như những anh bộ đội Cụ Hồ “đi dân nhớ, ở dân thương”…
...lội suối đến vận động học sinh ở các thôn, bản đến lớp.
“Chúng tao ưng cái bụng rồi...”
Bản Danh là 1 trong 2 bản (cùng với Nà Hắc) của thôn Bản Danh - Nà Hắc. Đây cũng là thôn xa nhất, khó khăn nhất của huyện miền núi Tiên Yên. Bản Bản Danh chỉ có 17 hộ với 108 khẩu, thì có 6 hộ thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí quốc gia. Khi nghe thầy Phúc đề xuất phối hợp cùng vận động bà con làm lại lớp học tạm cho con, em trong bản, Trưởng bản Tằng Coóng Vểnh hồ hởi: “Được thôi, mỗi người bỏ ra 1 buổi đi chặt cây tre, cây gỗ trên rừng về là có lớp mà. Việc gì mà bà con ưng cái bụng thì đều làm được. Mấy hôm nữa, xong vụ cấy này tao sẽ vận động bà con đi dựng lớp”.
Lớp học tạm cũ của điểm trường Bản Danh nằm cạnh con suối. Được dựng từ năm 2003 và được bà con tu sửa hàng năm, nhưng do chỉ là phòng tranh, tre, nên năm nay lớp học đã mục nát. Số học sinh tăng dần, diện tích lớp học cũng không đủ đáp ứng. Vì thế mà nhà trường phối hợp vận động bà con dựng lớp mới. Dẫn tôi lội qua con suối đang mùa lũ tràn về để sang thăm khu nhà giáo viên ở, thầy giáo Phúc giới thiệu: “Để sự học nơi này phát triển thì phải được sự ủng hộ của bà con. Mấy năm gần đây, nhờ tuyên truyền tốt mà công tác xã hội hoá giáo dục cũng thuận lợi hơn. Dãy nhà công vụ xây bằng gạch bùn này là do bà con dựng cho các thầy, cô giáo ở. Cố gắng dạy và học trong phòng học tạm nốt năm nay nữa thôi. Khi xong tuyến đường mở rộng từ xã vào đến Nà Hắc thì Bản Danh sẽ được xây phòng học kiên cố theo chương trình kiên cố hoá trường, lớp của tỉnh”. Dãy nhà công vụ tuy không to, không sang và đẹp như dưới xuôi, nhưng cũng đủ 2 phòng ở, nhà bếp, công trình phụ, nước sinh hoạt. Trên thửa đất rộng bằng phẳng là dãy nhà ở của giáo viên, nằm sát bên kia bờ suối, nên hàng ngày các thầy, cô giáo phải lội qua suối để sang lớp. Gặp hôm nào nước lũ to, thì thầy, trò bị chia cắt, lớp phải tạm nghỉ, hôm khác học bù. Thầy giáo Phúc giải thích: “Ở miền núi đất rộng, người thưa, nhưng lại rất khó về mặt bằng và đường vận chuyển nguyên vật liệu. Huy động bà con san gạt cũng chỉ đủ mặt bằng để xây dựng 1 phòng học hoặc nhà công vụ. Vì thế mà công vận chuyển nguyên vật liệu ở miền núi có thể bằng tiền xây mấy phòng học cùng một lúc”. Chưa vào năm học mới, nên lớp học và nhà công vụ vắng tanh. Theo kết quả điều tra, vận động của giáo viên nhà trường, năm học mới bà con Bản Danh đã cam kết cho tất cả con, cháu trong tuổi đi học ra lớp. Bản Danh có 35 học sinh, trong đó 21 em cấp tiểu học của 4 lớp 1, 2, 3, 5 sẽ học tại bản, còn 14 em cấp THCS sẽ về trường chính học theo chương trình nội trú dân nuôi.
Vào thăm hộ ông Lỷ Chăn Sòi, hộ nghèo nhất trong bản. Năm nay mới ngoài 60 tuổi mà trông ông như đã ngoài 80. Cất giọng khê đặc bởi khói thuốc, ông Sòi lơ lớ nói với chúng tôi: “Giờ chúng tao ưng cái bụng rồi nên không để con cháu thất học đâu”. Nghe vậy, những thầy giáo đi cùng tôi mỉm cười vui sướng, mãn nguyện. Tôi hiểu, để có nụ cười hạnh phúc ấy, họ đã phải đổi bằng rất nhiều mồ hôi, nước mắt và cả tuổi thanh xuân… Hà Văn Dũng, bắt đầu vào nghề và gắn bó với Bản Danh - Nà Hắc từ năm 2006 đến nay. Năm nào cũng vậy, cứ chuẩn bị bước vào năm học mới, Dũng lại cùng đồng nghiệp đi điều tra phổ cập. Dũng bảo: “Chuyến đi này đường vào cũng dễ rồi. Năm trước, em vào Bản Danh - Nà Hắc phải đi theo con đường mòn của bà con trong bản. Xe máy không vào được, phải vứt vạ vật ngoài đường. Lúc quay ra thì có lần xe bị tháo lấy hết xăng; gương bị vặt trộm, lốp bị xì hơi. Đi bộ một mình đã khó nhọc, nay lại phải dắt thêm cái xe hỏng. Nhiều cô giáo vừa dắt xe về vừa tức tưởi khóc”. Trầm ngâm một lúc, Dũng kể tiếp: “Từ xã vào đến điểm trường Nà Hắc và ngược lại chúng em phải lội qua 72 con suối. Cái eo núi thứ 3 lúc nãy chị đi qua ấy, chỉ có con đường nhỏ xíu. Một bên là núi nhô ra, một bên là vực sâu thẳm. Đến nhà điều tra phổ cập cũng vất vả lắm. Mỗi năm bà con khai một kiểu. Do đẻ nhiều, nhiều gia đình còn không nhớ ngày, tháng, năm sinh của con, thậm chí quên cả tên khai sinh”. Nghe Dũng kể vậy, tôi không biết nếu là một năm trước tôi có đủ sức để vượt qua quãng đường đến Bản Danh.
Đúng lúc mặt trời chói chang nhất thì công việc của đoàn đi vận động ở Bản Danh cũng vừa hoàn tất. Nhóm giáo viên trẻ của Dũng định tiếp tục cuộc hành trình vào Nà Hắc (cách Bản Danh gần 10km đi bộ xuyên qua suối và rừng) nhưng đành phải gác lại, vì nước lũ từ thượng nguồn đã đổ về. Những dòng suối lúc trước hiền hoà là vậy, mà giờ đây đục ngầu, cuồn cuộn chảy. Chuyến đi này đã cho tôi nhiều cảm xúc. Vui vì được “mục sở thị” công việc của các thầy, cô giáo ở miền núi. Vì nhờ những tấm lòng yêu nghề, mến trẻ, những chế độ chính sách ưu đãi của Nhà nước, của tỉnh dành cho học sinh nghèo dân tộc miền núi, mà sự học ở Bản Danh nói riêng, Hà Lâu nói chung đã có nhiều thay đổi. Ngày 16-8 này học sinh ở Bản Danh sẽ có lớp học mới; học sinh ra lớp học ở Hà Lâu cũng đông hơn… Nhưng lại buồn khi mà công việc của những người đi “trồng người” ở đây còn vất vả quá. Mong rằng con đường vào Bản Danh - Nà Hắc sẽ nhanh chóng hoàn thành, để nơi đây rồi sẽ có những phòng học kiên cố, việc đi lại của giáo viên, học sinh sẽ bớt phần vất vả.