(Ông Đỗ Đăng Nghị, cựu nghĩa quân Đệ tứ Chiến khu, trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)
Đã tròn 90 tuổi, mắt đã mờ, chân đã yếu, nhưng đầu óc ông thì vẫn còn minh mẫn lắm. Ngồi tiếp chuyện tôi tại nhà riêng (ở xã Bình Dương, huyện Đông Triều), người cựu nghĩa quân Đệ tứ Chiến khu năm xưa cứ vuốt ve tấm bằng
ghi công mà Nhà nước trao tặng... Và những kỷ niệm về một thời hào hùng của quê hương cứ hiện dần qua giọng kể đều đều chậm rãi của ông...
Ông bảo, cả đời ông, với hơn 30 năm chiến đấu chống giặc và xây dựng đất nước, được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huy chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, song những ngày cùng bao thanh niên Đông Triều đuổi phỉ, đánh bốt Nhật, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945 vẫn là những ngày đáng nhớ nhất...
- Ai đã từng sống qua thời kỳ đen tối đó mới thấu hiểu hết nỗi thống khổ cùng cực của dân ta, cô ạ - Ông nói với tôi - Đầu năm 1943 nhiều tốp phỉ nổi lên, chúng thỉnh thoảng về làng trộm trâu, trộm gà, đánh đập người dân. Mỗi phiên chợ huyện Đông Triều chúng mang hàng trăm quân đến cướp hàng hoá. Có lần chúng ngang nhiên cướp nhà dân, đánh thanh niên, bắt trói phụ nữ, trẻ em, người già đòi tiền chuộc. Thêm vào đó là sự hống hách, độc ác của những tay lý, tay bá trong làng, xã; chúng tìm mọi cách vơ vét ruộng đất, bóc lột sức dân. Bọn lính Pháp thì đàn áp dân ta trắng trợn; đi tuần gặp ai đó thấy ngứa mắt là đánh, là nổ súng... Nhiều khi chúng ức hiếp người dân chỉ để mua vui... Nhân dân khi đó căm hận chúng tận xương tuỷ, nhất là những thanh niên trai tráng như chúng tôi chỉ muốn vùng lên...
- Cháu nghe nói vào những ngày bức bối ấy, ông đã cùng một số người trong họ, trong làng đứng ra bảo vệ người dân; rồi vì đánh trả bọn lính Pháp nên ông đã bị chúng bắt đi tù?
+ Phải, những ngày ấy phong trào cách mạng tại địa phương còn yếu lắm, sự chỉ đạo của Mặt trận Việt Minh chưa tới được các thôn, xã... Thế nhưng thôn Đông Khê Thượng, xã Việt Dân quê tôi vốn có truyền thống yêu thương đùm bọc nhau, tinh thần đoàn kết rất cao. Thấy bọn lính Pháp với bọn cường hào ác bá ức hiếp dân mình quá thể, lại thêm bọn phỉ suốt ngày nhũng nhiễu, tôi và anh trai Đỗ Đăng Ngọ và người cháu họ Đỗ Đình Khái cùng một vài anh em khác trong làng tập hợp nhau lại thành tổ tương thân tương ái. Ban ngày chúng tôi nghe ngóng thông tin từ các đồn lính Pháp, tối chúng tôi cũng bí mật đi tuần. Vì thế, bọn lính Pháp và bọn phỉ động tĩnh gì là chúng tôi biết và đánh động trước cho bà con cảnh giác... Mặc dù hoạt động của tổ tương thân tương ái chỉ là tự phát của thanh niên trai tráng trong làng thôi nhưng cũng khiến nhiều đợt càn quét của chúng không đạt kết quả. Chúng hậm hực lắm và trong một lần xô xát với mấy tên lính Pháp làm càn, mấy anh em, trong đó có tôi, bị chúng bắt bỏ tù, hơn một năm sau mới trốn thoát...
- Và sau đó thì ông tham gia nghĩa quân Đệ tứ Chiến khu?
+ Giữa lúc quân Pháp rối loạn do Nhật đảo chính (ngày 9-3-1945) chúng tôi tìm cách trốn thoát ra ngoài. Khi đó ông Bá Nít, là anh rể tôi, đang cùng với những người yêu nước khác xây dựng lực lượng Đệ tứ Chiến khu Đông Triều. Lúc này sư Tuệ trở lại chùa Bác Mã kết hợp với sư Nguyệt, trụ trì chùa thành lập tổ thanh niên cứu quốc. Nguyễn Bình, một cán bộ Việt Minh, cũng về chùa trực tiếp chỉ đạo phong trào. Chùa Bác Mã trở thành căn cứ bí mật của ta và liên hệ mật thiết với lực lượng dưới xã Việt Dân. Để tạo điều kiện cho tôi lánh mặt khỏi địa phương và tiếp tục được tham gia kháng chiến, Bá Nít đã giới thiệu tôi làm chú tiểu tại chùa Bác Mã, nhưng thực chất là làm công việc cảnh giới, bảo vệ mỗi khi tại đây diễn ra những cuộc họp bàn quan trọng của quân ta. Tôi còn được tham gia đội tự vệ do Việt Minh thành lập để chống phỉ. Đến cuối tháng 4-1945, lực lượng vũ trang đầu tiên được thành lập bao gồm du kích các làng Bác Mã, Hổ Lao, Đạm Thuỷ... Tôi được kết nạp vào nghĩa quân đợt này...
- Ông còn nhớ những ngày Đệ tứ Chiến khu tiến hành khởi nghĩa chứ ạ?
+ Sao lại không nhớ! Khi nghĩa quân tiến hành khởi nghĩa, tôi được phân công nhiệm vụ phụ giúp sư Nguyệt tổng hợp thông tin từ các trận đánh, đồng thời kiểm đếm nhu yếu phẩm bà con nhân dân tiếp viện về chùa. Rạng sáng ngày 8-6-1945, tiếng súng khởi nghĩa đồng loạt nổ trên tuyến dài 24km theo quốc lộ 18A. Nghĩa quân do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy tiến về huyện lị Đông Triều đánh đồn địch, chiếm hơn 50 súng. Một tiểu đội khác chiếm huyện đường, tước súng đạn của lính cơ, chiếm bưu điện và mở kho thóc cứu đói cho dân. Tại đồn Tràng Bạch, đồng chí Trần Cung chỉ huy chiến sĩ ta bất ngờ nã đại liên, lính Nhật bị uy hiếp, sợ quá, chẳng chống đỡ gì mà đầu hàng ngay. Tại Mạo Khê, quân ta hoà vào những tốp thợ mỏ đi làm buổi sáng bất ngờ giương cao cờ đỏ sao vàng tiến vào bao vây văn phòng mỏ, khiến bọn chủ mỏ phải khuất phục. Để đảm bảo đời sống của công nhân, nghĩa quân cho phép chủ mỏ tiếp tục được khai thác than dưới sự giám sát của nghĩa quân. à, còn đánh đồn Chí Linh thì quân ta còn có sự tham gia của quân phỉ Lương Đại Bân. Cô đọc lịch sử chắc biết, hồi ấy Mặt trận Việt Minh chủ trương đoàn kết toàn dân để đánh Pháp, đuổi Nhật. Vì thế trong đội quân khởi nghĩa có cả các hào mục (như ông Bá Nít, anh rể tôi, chẳng hạn; lại cũng có cả những tốp phỉ ghét Tây, ghét Nhật nữa...). Tôi kể tiếp chuyện đánh đồn Chí Linh; trận đánh này lúc đầu không được thuận lợi vì hình như kế hoạch bị lộ nên quân địch có sự chuẩn bị trước, chống trả quyết liệt. Thế nhưng, do được nhân dân ủng hộ, tích cực giải truyền đơn nên về sau binh lính trong đồn “bất tuân thượng lệnh”, không chịu bắn nữa và đến cuối buổi trưa thì bọn địch chấp nhận đầu hàng.
- Như vậy chỉ trong một ngày nghĩa quân đã làm chủ cả một dải đất rộng lớn. Theo ông điều gì đã giúp nghĩa quân có được sức mạnh như vậy?
+ Chiến thắng của nghĩa quân Đệ tứ Chiến khu Đông Triều là sự tổng hợp của nhiều nguyên nhân. Trước hết là do có sự lãnh đạo đúng đắn của Mặt trận Việt Minh. Tôi chỉ nói một việc cụ thể nhất, ấy là sự tạm thời thoả hiệp với quân phỉ. Chính sự thoả hiệp này mà nghĩa quân đã “thêm bạn, bớt thù”. (Điều này hồi chưa có sự lãnh đạo của Việt Minh, anh em chúng tôi chẳng biết điều đó, cứ thấy lính phỉ, thấy bọn cường là ghét, chỉ muốn đánh cho hả giận...). Và một nguyên nhân cũng hết sức quan trọng nữa là nghĩa quân được sự ủng hộ rất lớn của nhân dân. Như tôi nói ban đầu ấy, người dân quê tôi, nhất là lớp thanh niên, rất căm thù giặc; ngay từ khi chưa có Việt Minh lãnh đạo, chúng tôi đã biết tập trung lại, tự vệ vũ trang canh gác, bảo vệ dân làng... Từ đó, khi tổ chức Việt Minh được thành lập ở địa phương, đã có những hạt nhân mà sau chuyển dần thành tổ chức thanh niên cứu quốc. Mặt khác, thời kỳ đầu thành lập Đệ tứ Chiến khu, nhân dân trong vùng mặc dầu đang bị nạn đói hoành hành nhưng kẻ ít người nhiều đều đóng góp lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược cho nghĩa quân. Tôi còn nhớ những ngày đầu tháng 6, sân chùa Bác Mã đầy những gạo, bò, lợn, vũ khí, thuốc men... Khẩu đại liên, vũ khí được Việt Minh trang bị đã có thêm chiếc giá ba chân, có yên ngồi cho xạ thủ... Ngày 7-6, nghĩa quân nhận lệnh khởi nghĩa vũ trang, nhân dân mổ lợn, góp gạo khao nghĩa quân...
Ông Đỗ Đăng Nghị ngừng lời, đôi mắt mờ đục chợt mơ màng... Dường như cuộc trò chuyện đã làm những hồi ức trong ông sống lại... Ông nói với tôi mà như đang nói với chính mình:
+ Quả thật khó quên những ngày ấy, cái ngày tôi được đứng dưới hàng quân, trong lễ ra mắt chiến khu cách mạng mang tên “Đệ tứ Chiến khu”, nghe tuyên đọc lệnh thành lập “Du kích cách mạng quân” tại đình Hổ Lao... Xúc động đến không kìm được nước mắt. Vậy là từ nay tôi được sống và chiến đấu trong một tổ chức vũ trang chính quy, có sự dẫn dắt của Việt Minh, của cách mạng Việt Nam: Chúng tôi sẽ vững vàng bảo vệ quê hương, bảo vệ người thân của mình...
Tôi nắm bàn tay ông và nói lời cảm ơn, mong ông luôn khoẻ mạnh để sống lâu trăm tuổi. Ông cười: “- Mỗi lần đến ngày kỷ niệm 8-6 là tôi lại thấy như mình trẻ ra, cô ạ!”.