Tuy đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hi”, nhưng ngày nào cũng vậy, từ nhiều năm nay, bà cụ Thảng (khu Cửa Vạn, phường Hùng Thắng, TP Hạ Long) vẫn đều đặn bốn lượt chèo thuyền đưa đón 3 đứa cháu nội đến lớp học nổi trên biển.
Bà vui lắm vì đời bố, mẹ chúng “một chữ bẻ đôi” cũng không biết... Còn hôm nay, các cháu bà rồi cả trên trăm đứa trẻ khác ở làng chài này đã biết đọc, biết viết. Thậm chí, chúng còn được tiếp tục theo học đến những lớp cao hơn ở ngay tại vùng nước mênh mông này. Tất cả là nhờ những cô giáo tuổi đang còn ở độ “xuân phơi phới” đã và đang mang chữ ra khơi để “truyền” cho chúng...
Cô trò điểm trường Cửa Vạn say sưa nắn nót từng con chữ.
Dập Dềnh con chữ trên biển
Tuy sinh ra và lớn lên ở Quảng Ninh, nhưng trước đây tôi chỉ nghe nhắc đến Cửa Vạn như một vùng đất xa xôi lắm, tưởng như chẳng bao giờ có cơ hội đặt chân đến. Ngày còn là sinh viên tôi có dịp xem triển lãm ảnh mang tên “Làng chài Cửa Vạn” do Bảo tàng Dân tộc học phối hợp với Ban Quản lý Vịnh Hạ Long tổ chức. Dẫu chỉ được tìm hiểu về làng chài Cửa Vạn trên... cạn, nhưng tôi đã có được những nét phác hoạ cơ bản về Cửa Vạn - một làng chài trên Vịnh Hạ Long.
Đa số những người dân làng chài đều có nguồn gốc từ 2 làng chài cổ trên Vịnh Hạ Long trước năm 1948 là Giang Võng và Trúc Võng. Có thời kỳ, những người dân chài này đã định cư ở đất liền nhưng rồi vì “cơm áo, gạo tiền” họ lại xuống thuyền, lênh đênh trên biển với cuộc sống hàng ngày chạy theo đàn cá. Năm 1994, ông Nguyễn Văn Nhi là ngư dân đầu tiên học được nghề nuôi cá lồng bè. Từ đó, ông chuyển từ thuyền lên sống trên bè. Thấy nghề nuôi cá lồng có lãi, và nhân Nhà nước có chủ trương cho các chủ bè vay vốn để ngư dân ổn định cuộc sống, mọi người rủ nhau làm nhà trên bè. Làng chài Cửa Vạn, Vung Viêng, Ba Hang, Cặp La (thuộc phường Hùng Thắng, TP Hạ Long) hình thành từ đó.
Và lần này tôi thực sự biết thế nào là làng chài nổi Cửa Vạn khi một ngày đầu hè được “tháp tùng” Phó Giám đốc Sở GD-ĐT, nguyên Trưởng Phòng GD-ĐT TP Hạ Long Nguyễn Thanh Hiễn khi Đoàn công tác của ngành Giáo dục ra làm việc tại đây. Được biết, ông Nguyễn Thanh Hiễn là người có công không nhỏ trong 10 năm trước khi đưa con chữ ra Cửa Vạn. Nếu như cảm nhận của tôi về Cửa Vạn qua ảnh là một vùng nước mênh mông, xanh ngắt, thơ mộng thì khi “mục sở thị” còn đẹp hơn nhiều. Trong sắc nắng đầu hè vịnh Tùng Cuối dần hiện ra trước mũi tàu, hoang sơ, êm đềm như chốn bồng lai nơi hạ giới. Một không gian yên bình với những ngôi nhà nổi trên mặt nước được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi trùng điệp... Đưa tay chỉ ngôi nhà nổi vẫn tươi màu ngói mới... đồng chí Nguyễn Thanh Hiễn nói với tôi: “Nhìn thế này chắc nhà báo khó tưởng tượng được làng chài của 10 năm trước! Cuộc sống thuỷ cư nên trẻ con sinh ra biết bơi trước khi biết chữ. Trước đây chẳng ai biết con chữ, cái bút là gì. Quanh năm bám mặt vào biển vì thế mà cả làng mù chữ. Tình trạng thất học cứ bám riết lấy làng chài... Thế mà đã 10 năm trôi qua rồi”.
Theo lời kể của đồng chí Nguyễn Thanh Hiễn, buổi ban đầu đưa chữ ra biển cũng gian nan, vất vả lắm. Khi làng chài được thành lập, thấy cuộc sống của bà con nghèo, thất học, cả thành phố, đặc biệt là ngành GD-ĐT địa phương rất trăn trở. Nhiều phương án được lập ra, mở lớp trên bờ rồi đưa học sinh đến lớp hay đưa giáo viên tình nguyện ra dạy trên biển? Xét đi, tính lại, nhiều ý kiến thống nhất rằng với cuộc sống và nhận thức của bà con chỉ có thể để “cô đi tìm trò”. Nhưng dạy trên biển thì dạy thế nào, kinh phí để mua bàn ghế, mở trường, lớp ra sao? Vậy là cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, vận động, kêu gọi các nhà hảo tâm tài trợ. Nhờ thế mà cả khu làng chài đã nhận được sự trợ giúp của các tổ chức trong nước và quốc tế; trong đó, một tổ chức phi chính phủ ở Anh quốc tài trợ 3 nhà bè trị giá 350 triệu đồng. Những lớp học nổi đầu tiên ở Cửa Vạn cũng từ đó mà mọc lên. Có lớp học, có giáo viên nhưng buổi ban đầu, trẻ em ở làng chài cũng vẫn rất ngại đi học vì cầm bút tập viết còn thấy nặng hơn cả cầm lưới, quăng chài. Các cô giáo trẻ lạ nước, lạ cái lại phải ngược xuôi đi vận động; nhiều tổ chức, cá nhân hỗ trợ sách, vở, bút... Dần dà, sự học mới đi vào nền nếp.
Chuyến ra Cửa Vạn lần này của tôi thật ý nghĩa khi được đến thăm lớp học ở điểm trường Vông Viêng, được gặp thầy, trò trên lớp học nổi này và nhất là được gặp ông tổ trưởng dân phố Vũ Văn Hùng, người mà được những người bạn đồng hành của tôi ca ngợi suốt chuyến đi. “Bác ấy là người nhiệt tình. Nhờ có bác ấy nên mới có lớp học nổi ở điểm trường này đấy” - Cô giáo Thuý Anh, Hiệu trưởng Trường PTCS Hùng Thắng đã khẳng định với tôi như vậy. Còn đồng chí Nguyễn Thanh Hiễn thì nhớ lại ngày lớp học nổi đầu tiên ở Cửa Vạn khai giảng. “Đông vui lắm! Ông ấy chèo thuyền nan chở đâu 5, 6 cháu học sinh gì đó để ra dự khai giảng ở Cửa Vạn. Gặp mình, ông ấy cứ nằn nèo, bác cho mở lớp ở Vông Viêng đi để trẻ em ở đó được đến lớp. Chứ đây xa quá! Thấy mình chần chừ, ông ấy cả quyết: Bác cứ mở đi, thiếu gì em lo”. Nghe chuyện của 10 năm trước mới thấy con đường đưa chữ ra biển cũng thật dập dềnh như những con sóng xô ngày biển động. Nhưng nhờ có những người đầy tâm huyết, nhiệt tình như đồng chí Hiễn, bác Hùng mà đến nay lớp học nổi ở làng chài vẫn được duy trì, mở rộng.
Nối dài sự học nơi biển khơi
Ghé thuyền thăm lớp học ở điểm Vông Viêng, tôi bắt gặp sự khao khát con chữ đến cháy bỏng của những học trò giữa biển khơi. Thầy giáo Nguyễn Khắc Hùng, giáo viên nam duy nhất trên làng chài này đang cặm cụi giúp từng cậu học trò nhỏ nắn nót từng nét chữ. Thầy và trò say sưa, mải miết đến nỗi không nhận thấy những bước chân khách lạ đang làm dập dềnh cả lớp học. Đông đúc hơn, nhộn nhịp hơn Vông Viêng, lớp học nổi ở Cửa Vạn có 80 học sinh với 5 cô giáo. Điểm trường này có 3 phòng dành cho học sinh, 1 phòng cho các cô giáo ở rộng chưa đầy 7m2 và 1 gian bếp nhỏ xíu. Cũng như tất cả người dân ở cộng đồng thuỷ cư này, các cô giáo ở đây coi nước ngọt và điện thắp sáng là những thứ cực kỳ quý hiếm nên dùng rất tiết kiệm. Điểm trường được trang bị pin mặt trời, một máy phát điện loại nhỏ nhưng các cô giáo chỉ dám dùng phục vụ cho việc giảng dạy. Các cô thường phải tranh thủ soạn bài và làm việc khi trời còn sáng. Còn tối đến sinh hoạt của các cô phải trông nhờ vào ánh trăng và ánh sáng le lói của ngọn nến. Cô giáo Đặng Thị Hà tâm sự: “ở đây dẫu có khá hơn trước nhưng vẫn còn thiếu thốn lắm! Đầu tuần mới từ đất liền ra bữa ăn chúng em còn có đủ rau xanh, cứ đến giữa tuần chỉ còn đồ khô thôi. Những đợt bão, gió có khi cả tuần chỉ ăn lạc rang với muối trắng”. Xa đất liền, gắn bó với sông nước và lũ trẻ vạn chài, những giáo viên ở đây phải chống chọi với cô đơn, nỗi nhớ nhà và sự thiếu thốn trăm bề nhưng thật cảm phục khi họ vẫn vững vàng ngày ngày đón trẻ vào lớp, truyền thụ cho các em con chữ, kiến thức để làm chủ tương lai và cuộc sống của chính các em. Có lẽ khó khăn, thiếu thốn còn thường trực nên cũng dễ hiểu khi đến tận năm học 2008-2009, các lớp học ở đây vẫn chỉ dừng lại ở cấp tiểu học. Những học sinh tốt nghiệp tiểu học muốn theo học lớp cao hơn phải vào tận trong đất liền để học ở điểm trường chính. Với nhiều người dân vạn chài, việc vào đất liền theo học là một ước mơ không biết bao giờ mới thực hiện được. Vì thế mà ở vạn chài, người có trình độ học vấn cao nhất cũng chỉ hết lớp 5. Chẳng bằng lòng nhưng cũng không thể làm thay đổi thực tại đó, người dân vạn chài chỉ biết ước mơ - ước mơ một ngày không xa ở vạn chài có lớp học cấp THCS. Tôi chợt hiểu vì sao mà những lớp học ở khu làng nổi này đều được quét bằng nước sơn màu xanh - màu của hy vọng.
Giờ ra chơi lớp học luôn náo nhiệt, đông vui.
“Đó là chuyện của 1 năm trước thôi. Bây giờ ở Cửa Vạn có lớp phổ cập THCS rồi. Bà con phấn khởi lắm! Lớp phổ cập đầu tiên đã được tổ chức khai giảng hồi tháng 11-2009. Hiện thành phố đang đặt một doanh nghiệp chế tạo, lắp ráp các phòng học nổi kiên cố để thay thế cho những lớp học đã xuống cấp; đảm bảo an toàn cho cô, trò khi mưa bão” - Đồng chí Vũ Văn Hạnh, Trưởng Phòng GD-ĐT thành phố hồ hởi cho biết: Việc mở được lớp phổ cập GD THCS trên Cửa Vạn đã thoả nguyện được ý chí và ước mơ của bà con, vì thế lớp bổ túc đầu tiên đã thu hút được 30 học viên đến lớp. Nguyễn Quang Sáng tốt nghiệp khoá đầu tiên cấp tiểu học ở làng chài này, nhưng gia đình không có điều kiện cho em theo học trên đất liền vì thế đã 5 năm rồi em chưa được trở lại lớp. Khi thấy có lớp phổ cập, em đã đăng ký đi học mặc dù em đang là lao động chính trong gia đình. Sáng tâm sự: “Em theo học vì muốn tìm một việc làm có thu nhập ổn định. Hơn nữa, có kiến thức em cũng có thể giúp bản thân mình và bà con ở đây phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống”. Các cô giáo ở điểm trường Cửa Vạn kể: Hầu hết các học viên đều đã ngoài tuổi của học sinh bậc THCS nhưng rất chăm chỉ đến lớp. “Các em cũng rất ngoan ngoãn và quý cô giáo lắm. Thời gian rảnh rỗi các em thường đến lớp rủ các cô đi câu mực, câu cá, dạy các cô chèo mủng (phương tiện di chuyển duy nhất ở khu làng chài này - PV). Mỗi lần như vậy, cô, trò gần gũi, các em cũng gắn bó yêu trường, yêu lớp và thích đi học hơn”.
Hiện khu làng chài Cửa Vạn có trên 100 hộ sinh sống với trên 500 nhân khẩu. So với 10 năm trước khi cái chữ chưa đến được với bà con thì cuộc sống ở đây đã có nhiều thay đổi lắm. Những ngôi nhà nổi đã được thay thế cho những chiếc thuyền nan ọp ẹp. Trong khu cũng có nhiều gia đình khá giả có nhà lợp ngói trên những bè phao nổi, có đầy đủ tiện nghi như đài, ti vi, bàn ghế... “Sự đổi thay từng ngày ở đây bà con đều nhận thấy hết. Có vậy, bọn trẻ mới đi học ngày một đông thế chứ!” - Bà cụ Thảng móm mém cười chia sẻ với chúng tôi. Theo thống kê của Trường PTCS Hùng Thắng, đơn vị trực tiếp quản lý các điểm lớp học nổi trên biển khu Cửa Vạn, năm học đầu tiên cả khu chỉ có 7 lớp, chủ yếu là lớp 1 và lớp 2, nhưng đã thu hút được 114 học sinh. Lứa tuổi các em cũng không đồng đều, ít tuổi nhất là 8 mà nhiều tuổi nhất là 17. Đến năm học 2009-2010 này đã mở được 18 lớp, có từ lớp 1 đến lớp 5 với 154 học sinh. Có được những lớp học trên biển đó là cả một sự cố gắng, nỗ lực không chỉ của riêng ngành GD-ĐT thành phố mà còn là công sức của rất nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền.
10 năm nay, người dân làng chài Cửa Vạn đã quen với hình ảnh sáng sáng lũ trẻ trong thôn í ới gọi nhau, tiếng cười đùa, tiếng mái chèo khua nước oàm oạp của từng chiếc thuyền nan lần lượt nối đuôi nhau vào lớp học. Các cô giáo ra tận “bến” lớp học dang những cánh tay kéo học sinh vào lớp... Dẫu nhắm mắt có thể kể rành rọt từng động tác, từng chi tiết, tên từng cô giáo đã tình nguyện ra đây dạy học, nhưng mỗi khi nhắc đến chuyện học hành của bọn trẻ trong thôn thì người dân làng chài vẫn thấy vui và nở nụ cười rạng rỡ. Không vui sao được khi cái chữ đã góp phần làm thay đổi cuộc đời của họ. Nhờ có cái chữ mà họ biết làm kinh tế, biết làm du lịch; con cháu họ có công ăn việc làm với thu nhập ổn định ngay trên chính vùng nước mênh mang này. Ngắm cảnh bọn trẻ đến trường tôi thấy vui lây niềm vui của họ...