Quan trọng là người dân đồng tình hưởng ứng

Từ hồi dự án Phục dựng, bảo tồn, phát huy một số loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian (VHDG) của ngư dân làng chài Cửa Vạn (Vịnh Hạ Long) mới bắt, tôi đã nghe thạc sỹ văn hoá Cao Đức Bình, cán bộ phòng Nghiệp vụ (Sở VHTT) trò chuyện với những ý kiến tâm huyết; Ông bảo, muốn bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá phi vật thể của vùng làng chài Cửa Vạn thì cần thiết phải xây dựng một làng thuỷ cư truyền thống theo đúng nghĩa trên Vịnh Hạ Long... Nay gặp lại, ông đã tham gia dự án này ở vai trò thư ký, đồng thời là một trong những người thiết kế dự án. Ông cho biết:

b
Thạc sĩ văn hoá Cao Đức Bình.
+ Dự án gợi ý, tạo điều kiện khám phá một mảng rất quan trọng của di sản, đó là giá trị văn hoá phi vật thể của vùng làng chài Cửa Vạn (Vịnh Hạ Long), với các làn điệu hát giao duyên, hát đám cưới, các phong tục tập quán, thói quen sinh sống như cưới hỏi, tang ma, giỗ, tết... Việc phục dựng cũng là để phát huy, khai thác các giá trị ấy cho phát triển du lịch, phát triển giá trị văn hoá Vịnh Hạ Long. Quan điểm của Ban quản lý dự án là phải phục dựng, bảo tồn trong môi trường văn hoá truyền thống của nó thì mới tồn tại được. Nhưng hiện nay mọi thứ đang bị mất đi. Làng thuỷ cư truyền thống ngày xưa ấy không còn, ngư dân cũng không còn sống hoàn toàn trên thuyền như xưa nữa. Cuộc sống mới hiện nay không có thuyền gỗ với những cánh buồm kiểu cũ, cách thức khai thác thuỷ sản cũng khác. Càng ngày, sự phát triển kinh tế tự nhiên của người dân làng chài Cửa Vạn càng đi xa dần mục đích của dự án. 100% các hộ nuôi cá lồng bè, giống như một khu kinh tế trang trại. Các nghề truyền thống ngày càng mất đi. Về mặt văn hoá mà nói thì làng chài nay đã mất đi nhiều vẻ đẹp tự nhiên của nó...

- Thưa ông, sự khác nhau giữa ngư dân làng chài - chủ nhân di sản và người làm du lịch - người khai thác các giá trị văn hoá ấy, hình như là ở cách làm, còn thực chất, họ có chung một lợi ích?

+ Đúng vậy, khi ngư dân của Vịnh tái tạo những giá trị văn hoá đã mất đi phục vụ du lịch thì thu nhập của họ vẫn thấp hơn nghề nuôi cá lồng bè hiện nay. Đó là lý do cho việc vận động người dân chài làm du lịch khó khăn đến thế! Điều mà dự án nhắc đến là vấn đề nuôi cá lồng bè hiện tại có giá trị như thế nhưng không bền vững. Tác hại đến môi trường, cảnh quan của nó đã được nhắc nhở nhiều lần, chỉ một vài năm nữa sẽ trở thành vấn đề lớn. Hay cách đánh bắt kiểu truyền thống cũng không thể thực hiện trong môi trường di sản hiện nay. Phục dựng là để diễn lại phục vụ du lịch - làm cho du khách được sống trong một môi trường đậm đặc văn hoá truyền thống, còn việc khai thác sản phẩm từ biển chẳng hạn thì chỉ có mức độ thôi. Điều đó mới giàu tiềm năng và mang tính bền vững.

Để người dân làng chài ý thức được điều đó, chúng tôi đã tiếp xúc với bà con, trình bày kế hoạch của mình và xin ý kiến bà con xem làm thế có phát triển được không? Quả nhiên, mọi người đã có những ý kiến hay để thay đổi một chút khung sườn dự án đưa ra. Như phục dựng hát giao duyên trên biển chẳng hạn, lớp trẻ không hiểu, khi thấy các ông bà già hát xướng thì bảo chỉ là vui chơi thôi chứ chả mang lại quyền lợi kinh tế gì cho họ cả. Việc biểu diễn phục vụ du lịch theo họ là việc của các nhân viên Trung tâm Văn hoá nổi Cửa Vạn, như đã từng làm với hát giao duyên. Nhưng đứng ở góc độ khác thì thấy, hoạt động này nằm trong một tua khép kín, khách du lịch đến và bắt buộc phải xem thôi chứ không phải họ tự nguyện mua vé vào xem vì hấp dẫn, tò mò muốn tìm hiểu.

Tôi nghĩ rằng, khi bà con làng chài hiểu ra đâu là giá trị bền vững, đồng thời giải quyết cho họ vấn đề kinh tế, họ sẽ hào hứng theo ngay, như một số vùng Tây Bắc, Việt Bắc đã làm. Lúc đầu, họ cũng chỉ bộc lộ giá trị văn hoá nguyên bản của họ thôi, sau họ thấy giá trị ấy có thể đem lại thu nhập cao hơn là đi phá rừng làm nương, làm rẫy... bị cấm vì ảnh hưởng đến môi trường. Vậy là họ làm một cách chuyên nghiệp hơn.

- Hình như ý tưởng dự án đưa ra còn quá mới mẻ với nhiều người, khi mà cả nước chỉ vài địa phương làm theo cách này, còn Quảng Ninh thì đây là lần đầu tiên?

+ Đó là băn khoăn, lo lắng nhất của chúng tôi. Trước đây, đã có một số ý tưởng và phương án khai thác lĩnh vực này song dừng lại ở mức độ tuyển diễn viên và biểu diễn một số điệu hát giao duyên vùng biển, hướng khai thác chưa quan tâm đến các chuẩn về di sản VHDG; vì thế UBND tỉnh mới yêu cầu ngành văn hoá phải vào cuộc. Nói chung, việc phục dựng này không có gì khác cách làm của Hội An hay một số vùng Tây Bắc cả. Du lịch bây giờ đã khác, phát triển theo nhiều hướng như tham quan vãng cảnh, nghiên cứu khoa học, khám phá, du lịch chữa bệnh... Trong đó, xu hướng hiện nay được quan tâm nhất là tự mình chiêm nghiệm, trải nghiệm lối sống của cộng đồng hay dân tộc khác. Hình thức này phù hợp trong bối cảnh Vịnh Hạ Long. Ngoài chiêm ngưỡng cảnh đẹp, du khách lại được trải nghiệm đời sống lao động, phong tục tập quán và các nét văn hoá độc đáo chỉ có ở Vịnh Hạ Long... Nếu tham quan hang động, khách chỉ cần 1 ngày thôi, nhưng nếu họ tìm hiểu đời sống văn hoá một làng chài cổ thì họ sẽ ở thêm một vài ngày nữa. Như vậy, giá trị của Vịnh Hạ Long sẽ tăng thêm gấp đôi. Chúng tôi từng tìm hiểu cách làm của người Mông. Khách du lịch rất thích sống ở đó. Họ sẵn sàng ăn cùng với bà con những món truyền thống, ngủ trên nhà sàn... chỉ cần khắc phục một chút như vấn đề nhà vệ sinh chẳng hạn. Nhiều làng, khu phố cổ trên đất liền khi làm điều này còn phải giải quyết rất nhiều vấn đề. Còn giúp du khách sống đời sống thực ở làng chài chúng ta dễ dàng hơn các vùng khác nhiều. Trên biển, ngư dân có thể tham gia các việc khác như hướng dẫn khách chèo thuyền, tham gia đánh bắt thuỷ sản...

- Theo ông, trong dự án này thì giá trị văn hoá hay giá trị thương mại có sự chi phối mạnh hơn?

+ Tất nhiên, giá trị văn hoá phải mạnh hơn nhưng trên cơ sở giá trị thương mại, để tạo ra sức sống cho văn hoá, nếu không, chẳng khác gì trưng bày những hiện vật trong bảo tàng. Những bảo vật sống, những nghệ nhân, bình thường như hiện nay thì họ cần gì truyền lại những giá trị cũ cho con cháu nếu không thiết thực với chúng. Nhược bằng có sinh lợi, thì các thế hệ sẽ nối tiếp nhau để truyền lại các giá trị ấy cho đời sau.

- Khi dự án đã hội được các yếu tố cần và đủ như vậy, phải chăng chúng ta có thể lạc quan về một sản phẩm, một hướng làm du lịch mới cho Hạ Long trong một ngày không xa, thưa ông?

+ Dự án tiến hành từ tháng 9 năm nay, đến tháng 7-2008 là kết thúc rồi. Đây chỉ là thực hiện phục dựng phần nội dung thôi, còn muốn có một sản phẩm du lịch hoàn thiện thì phải tạo ra không gian văn hoá riêng của các di sản văn hoá phi vật thể ấy, nghĩa là phục dựng một làng thuỷ cư truyền thống theo đúng nghĩa trên Vịnh Hạ Long. Làng chài khu vực dự án phải được quy hoạch riêng, chỉ có một số gia đình nhất định, sống theo mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ, con cái trưởng thành lại tách ra nhưng sống gần bố mẹ. Các gia đình sống trên những con thuyền kiểu cũ, nhiều thuyền đậu lại giống như một phường nghề vậy. Con người sẽ trở thành bảo vật sống. Khách du lịch có thể tự nấu ăn trên thuyền và tham gia các hoạt động trong đời sống sinh hoạt, tâm linh và lao động hàng ngày của họ như lễ hội truyền thống, đám cưới, đám tang, giỗ, tết, hay tham gia câu cá, soi cù kỳ, câu mực và tìm hiểu các nghề truyền thống như thui thuyền, xảm thuyền, cách sử dụng các bài thuốc quý của ngư dân...

Sản phẩm của dự án không chỉ là những bộ phim, cuốn sách khảo cứu, giới thiệu về di sản VHDG của làng chài được nhà nước công nhận mà cái chính là những sinh hoạt VHDG ấy được phục dựng đã sống lại, trở thành một thành tố quan trọng trong đời sống KTXH, văn hoá tinh thần của ngư dân. Sản phẩm của dự án sẽ được bàn giao lại cho Ban Quản lý Vịnh Hạ Long khai thác. Khi áp dụng đưa trở về đời thường, cái nào trái thì bỏ đi, thuận thì đưa vào... Những phần việc còn lại như đóng thuyền bè, xây dựng CSVC, lập làng hay khai thác phục vụ du lịch ra sao... sẽ thuộc về các dự án khác. Nhưng cũng phải thẳng thắn mà nói rằng, phục dựng là một việc, còn đưa trở về đời thường thì cực khó, đòi hỏi nhiều nỗ lực và thời gian, cộng với sự đầu tư xứng đáng. Nhìn ra nước ngoài, nhiều quốc gia, như Lít-thua-lia ở vùng biển Ban tích chẳng hạn, cũng đã có mô hình làng như thế phục vụ cho du lịch. Từ một thành phố hiện đại, ta chỉ đi bộ qua một con đèo ngắn là bước sang một vùng có cộng đồng dân cư sống hoàn toàn hoang dã. Người dân ở đó được trả lương để sống theo lối truyền thống. Còn khi ra khỏi đó, họ vẫn có thể đi ô tô, có thể có biệt thự riêng...

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Cùng chuyên mục