Quảng Ninh có nhiều ưu thế nhưng cũng không ít thách thức khi nước ta gia nhập WTO

Đồng chí Vũ Văn Thìn, Giám đốc Sở Thương mại, Phó ban Hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh, trả lời phỏng vấn Báo Quảng Ninh

Quảng Ninh có nhiều ưu thế nhưng cũng không ít thách thức khi nước ta gia nhập WTO ảnh 1- Xin đồng chí cho biết, khi nước ta gia nhập WTO, ngoài những điều kiện, tình hình chung như các địa phương khác trong cả nước, Quảng Ninh có những thuận lợi và thách thức gì mang tính đặc thù?

- Nếu nói về những thuận lợi và thách thức khi nước ta gia nhập WTO, tỉnh ta có những yếu tố đặc thù khá rõ nét. Thuận lợi trước hết là về vị trí địa lý, chúng ta có cửa khẩu quốc tế, quốc gia; có biển và hệ thống cảng, đặc biệt trong đó lại có cảng nước sâu Cái Lân. Mặt khác, tài nguyên thiên nhiên của tỉnh ta cũng rất phong phú; có than đá, có rừng, có biển v.v... Và nhất là có Vịnh Hạ Long, một di sản thiên nhiên thế giới hấp dẫn. Về kinh tế, Quảng Ninh cũng có những mặt ưu thế hơn nhiều so với một số tỉnh, thành khác trong nước; nhiều ngành công nghiệp bước đầu đã được đầu tư hiện đại, với quy mô lớn, như công nghiệp đóng tàu, công nghiệp khai thác than, xi măng, nhiệt điện v.v... Còn nếu xét về mặt xã hội, từng bước, tỉnh đã sắp xếp lại sản xuất, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh; chúng ta cũng đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý ở một số ngành và một số doanh nghiệp v.v... Đó là những thuận lợi rất cơ bản cho quá trình hội nhập quốc tế khi nước ta gia nhập WTO. Còn về thách thức mà chúng ta sẽ phải đối mặt, tôi nghĩ cũng không nhỏ. Hiện tại, nền kinh tế nói chung còn thấp, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế manh mún, lạc hậu, phân tán, không đồng bộ. Các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu thuộc loại vừa và nhỏ, khả năng cạnh tranh yếu. Bên cạnh đó, về nhận thức, vẫn còn không ít cán bộ quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp chưa nhận thức thật đầy đủ về thời cơ, thách thức trong quá trình hội nhập; đặc biệt là hiểu biết về luật pháp quốc tế và ngoại ngữ còn ở mức thấp. Ngoài ra, nói gì thì nói, quá trình cải cách thủ tục hành chính hiện vẫn còn nhiều bất cập sẽ là một trong những trở ngại rất lớn khi gia nhập WTO...

- Trong số ấy, theo đồng chí, thuận lợi, khó khăn nào là đáng quan tâm, chú ý nhất?

- Theo tôi, về thuận lợi, chúng ta cần tận dụng tối đa ưu thế của một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và trong khu vực hành lang mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc. Đây là điều kiện để chúng ta hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đồng thời, cũng phải tận dụng thế mạnh của một số ngành mới được đầu tư quy mô hiện đại, như bưu chính viễn thông, công nghiệp đóng tàu, sản xuất xi măng, nhiệt điện v.v... Còn về thách thức, vấn đề cần lưu tâm nhất là phải nâng cao hiểu biết cho đội ngũ cán bộ quản lý và doanh nghiệp về hội nhập, về các định chế mà nước ta đã ký kết, như các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình cắt giảm thuế quan và phi quan thuế v.v... Có hiểu biết đầy đủ và cụ thể về điều đó mới có thể xây dựng kế hoạch đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

- Một khi đã gia nhập WTO, tính cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn. Với năng lực như hiện tại, đồng chí có cho rằng các doanh nghiệp của tỉnh sẽ trụ vững?

- Nói thật, trả lời được câu hỏi này không dễ chút nào. Bởi còn phải căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp. Nhưng có một nét chung hiện nay là trừ một số ít doanh nghiệp ra, còn lại hầu hết các doanh nghiệp Quảng Ninh đều thuộc loại vừa và nhỏ; vì thế, khi tham gia vào thị trường quốc tế, phải chịu áp lực cạnh tranh lớn, chắc chắn, chúng ta phải đối đầu với những thách thức không nhỏ. Trong hoàn cảnh ấy, tôi nghĩ, ngành kinh doanh nào, doanh nghiệp nào ổn định, đứng vững và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào sự năng động, tính quyết đoán để xây dựng chiến lược đầu tư phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình trên thương trường. Như hệ thống phân phối thương mại và dịch vụ của tỉnh chẳng hạn; những năm vừa qua cũng có mức tăng trưởng khá, sức mua xã hội tăng lên không ngừng, bình quân tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng 10% đến 16% một năm, với doanh số năm 2005 đạt trên 6.000 tỷ đồng và trong 10 năm tới, doanh số bán lẻ sẽ tăng gấp đôi. Nhưng hệ thống phân phối bán lẻ ấy vẫn còn nhiều bất cập trước yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế, hầu hết doanh số bán lẻ đều được thực hiện ở các chợ, các cửa hàng, các sạp hàng bán lẻ thuộc các địa bàn dân cư ở thành thị và nông thôn và nhìn chung, đều còn mang tính tự phát. Muốn đáp ứng yêu cầu phát triển văn minh thương mại thì tỉnh phải sớm hình thành một hệ thống phân phối hiện đại, với những trung tâm thương mại, siêu thị đủ tiêu chuẩn. Thế nhưng để tham gia hệ thống phân phối này, các doanh nghiệp chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn do nguồn vốn hạn hẹp, tính chuyên nghiệp yếu; từ khâu thu mua, kiểm định đến sơ chế, đóng gói v.v..., đội ngũ cán bộ, công nhân viên hầu hết đều chưa được đào tạo chuyên ngành. Công tác xúc tiến, dự báo thông tin thị trường cũng rất yếu. Hậu cần phục vụ cho hệ thống phân phối, như hệ thống bảo quản hàng hóa, kho dự trữ, kho lạnh, các thiết bị trong khâu bán hàng v.v... phần lớn đều chưa đạt tiêu chuẩn của khu vực và quốc tế. Vì vậy phải gọi vốn đầu tư từ một số tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài. Đây sẽ là một thị trường hấp dẫn đối với họ và đầu tư nước ngoài sẽ trở thành nguồn động lực quan trọng thúc đẩy hệ thống phân phối và nền kinh tế phát triển. Sự có mặt của các tập đoàn phân phối nước ngoài trên thị trường bán lẻ sẽ thúc đẩy hệ thống thương mại tỉnh ta có những bước phát triển mới; đồng thời cũng không ít các doanh nghiệp phải giải thể hoặc chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác. Thực tế từ các tỉnh, ở đâu xuất hiện siêu thị của tập đoàn đa quốc gia, như Metro Cash và Carry hay BigC chẳng hạn, thì trong vòng bán kính 3km, hàng trăm cửa hàng, sạp tạp hóa bán lẻ, các siêu thị nhỏ bé, manh mún sẽ bị đóng cửa vì không cạnh tranh được về giá cả hàng hóa, về chất lượng phục vụ, chất lượng kinh doanh, vệ sinh an toàn thực phẩm v.v... Nói cách khác, ai nắm được hệ thống phân phối sẽ chi phối được thị trường...

- Vậy phải làm thế nào, thưa đồng chí?

- Tôi nghĩ, các nhà quản lý và các doanh nghiệp của tỉnh ta cần phải có chính sách và có kế hoạch đầu tư phát triển hệ thống phân phối thị trường nội địa ngay từ bây giờ. Gia nhập WTO, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường thế giới; đồng thời phải mở cửa thị trường cho hàng hóa nước ngoài vào nước ta kinh doanh. Do đó các nhà quản lý và doanh nghiệp phải nắm được các định chế và các cam kết quốc tế nước ta đã ký để xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập, với lộ trình cụ thể để các ngành, địa phương và doanh nghiệp tổ chức sắp xếp lại sản xuất kinh doanh, đổi mới cơ chế, nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời bổ sung chính sách, tăng cường các biện pháp thu hút vốn đầu tư và các nguồn lực khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài. Mặt khác, cũng phải xây dựng cơ chế chính sách rõ ràng, minh bạch, dễ dự đoán, có tính khả thi cao, xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với tiến trình phát triển; quản lý có hiệu quả, năng suất, chất lượng, công nhân lành nghề, cán bộ quản lý giỏi; đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ với giá hạ, chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp với thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng trong và ngoài nước...

- Còn về mặt quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trên địa bàn thì thế nào, thưa đồng chí?

- Trên cơ sở những cam kết quốc tế và lộ trình thực hiện các cam kết đó của Chính phủ, tỉnh sẽ xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời giao cho các ngành, địa phương và doanh nghiệp xây dựng kế hoạch hội nhập cụ thể của ngành, địa phương, doanh nghiệp mình. Trước hết, rà soát các cơ chế chính sách để điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi, loại bỏ những cơ chế trái với các cam kết mà Chính phủ đã ký kết; đồng thời tiếp tục sắp xếp lại sản xuất kinh doanh, đổi mới cơ chế quản lý để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, đặc biệt là các ngành dịch vụ; mặt khác cần tăng cường hơn nữa sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, điều tra, đánh giá từng sản phẩm, từng dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phương, đào tạo nguồn nhân lực, mở rộng quan hệ đối ngoại gắn với nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Đồng thời, tỉnh cũng sẽ có kế hoạch tổ chức tuyên truyền, học tập để mọi cán bộ, doanh nghiệp và nhân dân hiểu rõ về hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, có nhiều cơ hội nhưng không ít thách thức. Hội nhập là trận chiến về trí tuệ, cần tỉnh táo, khôn khéo, chống giản đơn, nôn nóng nhưng cũng đề phòng tính thụ động, trì trệ, bỏ lỡ cơ hội... Tôi nghĩ, về vấn đề này, công tác tuyên truyền, giáo dục cũng hết sức quan trọng. Chúng ta cần phải tổ chức học tập, truyên truyền cho mọi người dân biết được cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, như hội nhập để mở rộng thị trường hàng hóa, tranh thủ được vốn, kiến thức, kinh nhiệm, kỹ thuật từ bên ngoài, hàng hóa có thể rẻ, chất lượng đảm bảo hơn v.v... Nhưng cũng phải cho mọi người dân nhận thức được rằng, một khi bước vào hội nhập, có thể ta bị mất việc làm, doanh nghiệp có thể phải giải thể v.v... Và chúng ta phải làm gì để ổn định và phát triển... Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế không phải chỉ liên quan đến các doanh nghiệp mà tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội, là sự nghiệp của toàn dân. Với các cơ quan thông tin đại chúng, tôi nghĩ nên có chuyên mục về hội nhập kinh tế quốc tế, giới thiệu các nội dung cơ bản của các cam kết mà nhà nước ta đã ký kết; đồng thời thường xuyên phỏng vấn các đối tượng cán bộ quản lý, doanh nghiệp, người lao động thuộc các ngành nghề về vấn đề hội nhập; đồng thời giải thích, phân tích những vấn đề mà người dân cần thông tin v.v... Thậm chí, nên chăng cần đưa một số nội dung cơ bản, mang tính phổ thông về hội nhập vào chương trình đào tạo tại các trường chính trị, hành chính và ngay cả ở các trường phổ thông...

- Xin cảm ơn đồng chí!

Cùng chuyên mục