Quy hoạch Khu di tích Chiến thắng Bạch Đằng cần tương xứng với tầm vóc lịch sử của di tích

Bạch Đằng, một vùng sông nước ghi nhiều dấu ấn lịch sử của Tổ quốc Việt Nam. Nơi đây không phải chỉ một, mà đến ba lần quân dân ta chiến thắng oanh liệt những đoàn quân xâm lược.

Lần thứ nhất vào năm 938, Ngô Quyền cho cắm cọc trên sông Bạch Đằng đại phá quân Nam Hán, bắt sống tướng giặc Hoằng Thao, kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài trên 10 thế kỷ, mở ra kỷ nguyên mới độc lập dân tộc của đất nước ta. Lần thứ hai, năm 981 Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang, cho quân dân cắm cọc trên sông Bạch Đằng, đại phá thuỷ quân nhà Tống, giữ yên bờ cõi. Lần thứ ba, hào hùng nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, là trận tiêu diệt chiến lược lớn nhất trong lịch sử thuỷ chiến của dân tộc ta. Mùng 8 tháng 3 năm Mậu Tý 1288, quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của thiên tài quân sự, nhà chính trị lỗi lạc tài ba Trần Quốc Tuấn, với trận địa cọc, kế hoả công và thế trận toàn dân, hơn 600 chiến thuyền và hơn 4 vạn quân Nguyên Mông đã bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Mộng bá chủ toàn cầu của đế chếMông Cổ đã bị chôn vùi dưới dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Ba lần cứu nước, lần nào cũng oanh liệt, cũng vĩ đại. Nhưng trong thực tế, nay nói đến Bạch Đằng, thường thì chiến công cuối, chiến công thứ ba, được nghĩ đến trước tiên.

Di tích Bạch Đằng 1288 còn lại đến nay chủ yếu nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh: bãi cọc Yên Giang, bãi cọc Đồng Vạn Muối, hai cây lim Giếng Rừng, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đình Trung Bản, đền Trung Cốc, đình Yên Giang, bến đò cổ (bến đò An Hưng), đình Đền Công (thị xã Uông Bí). Bờ tây sông Bạch Đằng có đền Trần Quốc Bảo (Hải Phòng). Đó là các di sản văn hoá cực kỳ quý báu của dân tộc. Tuy nhiên, do quá trình phát triển lịch sử lâu dài với nhiều tác động khắc nhiệt của môi trường, sự huỷ hoại vô ý thức của con người v.v... khiến hệ thống các bãi cọc bị mai một, xuống cấp, không còn nguyên vẹn. Các công trình tưởng niệm như đình, đền, miếu mới được trùng tu vào đầu thế kỷ 20 thì còn nhỏ bé, chưa tương xứng với vị thế của khu di tích. Chưa nói đến những nơi khác, ngay tại địa phương, nhiều người dân còn chưa đến hoặc chưa hiểu thấu đáo về sự kiện lịch sử vĩ đại này của dân tộc. Năm 2002 UBND tỉnh và Bộ Văn hoá - Thông tin (cũ) đã đầu tư trên 6 tỷ đồng tôn tạo đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà. Năm 2008 đã đầu tư trên 20 tỷ đồng tôn tạo bến đò cổ. Nhân dân và du khách đã về và hiểu một cách đầy đủ hơn sự kiện chiến thắng Bạch Đằng. Tuy nhiên, công tác bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích Bạch Đằng vẫn chưa tương xứng với tầm vóc của sự kiện chiến thắng Bạch Đằng và người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo.

Ngày 28 tháng 3 năm 2006, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đi thăm khu di tích Bạch Đằng đã làm việc với lãnh đạo tỉnh và yêu cầu nâng cấp quy hoạch khu di tích Bạch Đằng thành dự án cấp quốc gia. Được biết, hiện nay UBND tỉnh đã giao cho Công ty cổ phần Tư vấn & Đầu tư Hà Nội (CCIC) cùng Công ty EPAD Nhật Bản, nghiên cứu thiết kế quy hoạch dự án bảo tồn và phát triển khu di tích chiến thắng Bạch Đằng địa điểm xã Yên Giang, huyện Yên Hưng. Là người dân địa phương, chúng tôi rất mừng và mạnh dạn trao đổi đôi điều xung quanh việc tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích Bạch Đằng. Cụ thể, theo chúng tôi, để dự án tương xứng với tầm vóc giá trị của sự kiện lịch sử, điều đầu tiên là cần đảm bảo được yêu cầu trước mắt và lâu dài phục vụ nghiên cứu khoa học, trong giáo dục truyền thống, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc và phát triển văn hoá, kinh tế du lịch của huyện Yên Hưng và của Quảng Ninh. Muốn vậy, nội dung bảo tồn và phát triển khu di tích chiến thắng Bạch Đằng nên theo xu hướng Bảo tàng sinh thái và Bảo tàng hoá di tích lịch sử văn hoá. Khu di tích Bạch Đằng nên do chính quyền (Chính phủ, tỉnh, huyện) và cư dân cùng vạch kế hoạch, xây dựng và khai thác. Chính quyền địa phương có chuyên gia và kinh phí; nhân dân địa phương có cùng ý tưởng, tri thức và nhân lực cùng tham gia. Cư dân địa phương chăm sóc, bảo tồn sinh hoạt, tập quán và truyền thống văn hoá thiêng liêng của cộng đồng. Các di tích nội ngoại thất của cụm di tích Bạch Đằng, như các bãi cọc, đình, đền miếu, cây lim, bến đò cổ v.v... là hiện vật trưng bày, còn các công trình: nhà hát, viện bảo tàng lịch sử, thư viện, các quảng trường, các cổng vào, các phù điêu, tượng đài, làng nghề, các nhà hàng, các nơi tổ chức lễ hội, các công viên cây xanh, vườn cây ăn trái, các nhà nghỉ, khu du lịch đường thuỷ (sông Bạch Đằng, sông Chanh, đầm nước), các khu vùng đệm cây xanh, hệ thống giao thông v.v... các công trình này là không gian Bảo tàng của di tích. Công tác giáo dục truyền thống và quảng bá tuyên truyền cho sự kiện lịch sử và khu di tích, khu du lịch này cũng cần được sự quan tâm. Nên chăng cần đầu tư xây dựng một bộ phim lịch sử chiến thắng Bạch Đằng 1288 quy mô tầm cỡ như phim lịch sử về Vua Lý Công Uẩn chuẩn bị khởi quay; ngoài ra nên có phim truyền hình giới thiệu sự kiện chiến thắng Bạch Đằng và các di tích liên quan. Đồng thời, cũng cần đầu tư xuất bản tập sách giới thiệu sự kiện chiến thắng Bạch Đằng và các di tích vật thể, phi vật thể liên quan... Đối với công tác nghiên cứu khoa học, để làm sâu hơn giá trị của di tích cũng cần được nhà nước và các nhà khoa học quan tâm tiếp tục nghiên cứu để phát hiện thêm những hiện vật mới và hoàn thiện diện mạo của sự kiện vĩ đại này. Đặc biệt, theo chúng tôi, một số vấn đề học thuật liên quan đến lịch sử hiện đang rất cần các nhà khoa học làm rõ; như quan điểm lịch sử về cuộc xâm lăng của quân Nguyên Mông vào Đại Việt thế kỷ 13; lần thứ nhất vào năm 1258, 2 vạn quân xâm lược chủ yếu là kỵ binh Mông Cổ; lần thứ hai và thứ ba vào năm 1284 và 1287 đế quốc Nguyên Mông đều huy động 50 vạn quân xâm lược nước ta (theo sử Nguyên và các cuốn sử đương thời trong nước). Các tướng lĩnh chỉ huy chủ yếu là các Hãn và tướng Mông Cổ như Hốt Tất Liệt và Thoát Hoan, Ô Mã Nhi... các tướng sĩ nhà Nguyên được huy động chỉ là quân nước thuộc địa của đế quốc Mông Cổ thế kỷ 13. Vậy, phải chăng cuộc xâm lăng Đại Việt thế kỷ 13 thực chất là của đế quốc Mông Cổ? Chiến thắng Bạch Đằng 1288 không chỉ có ý nghĩa với Đại Việt mà còn có ý nghĩa toàn cầu. Mộng xâm lăng các nước Nhật Bản, Mã Lai, Inđonexia, thậm chí cả đô hộ lục địa Trung Hoa, của đế quốc Mông Cổ cũng bị lụi tàn sau thất bại này... Nếu làm rõ hơn về những nội dung trên sẽ càng khẳng định sự vĩ đại của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm này của cha ông ta. Nó không chỉ mang ý nghĩa dân tộc mà còn mang ý nghĩa thời đại, nhân loại...

Cùng chuyên mục