“Sẽ được phát triển phù hợp với điều kiện xã hội và nhân văn của vùng lúa nước đồng bằng sông Hồng”

(Đồng chí Bùi Văn Khích, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, trao đổi với PV Báo Quảng Ninh).

“Sẽ được phát triển phù hợp với điều kiện xã hội và nhân văn của vùng lúa nước đồng bằng sông Hồng” ảnh 1

 Đồng chí Bùi Văn Khích.

- Thưa đồng chí, mới đây TKV và tỉnh Thái Bình đã ký kết thoả thuận hợp tác trong việc phối hợp triển khai, thực hiện “chương trình phát triển bể than đồng bằng sông Hồng”. Đây có phải là việc bắt đầu của một lộ trình dài hơi trong việc khai thác bể than với trữ lượng khổng lồ mà bấy lâu TKV đã chuẩn bị?

+ Đúng là như vậy! Theo đó, TKV sẽ lập và trình Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển bể than đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)”, xác định rõ qui mô, tiến độ, phương thức, nhu cầu vốn, nhu cầu sử dụng đất. Từ năm 2010, TKV sẽ đầu tư thử nghiệm một số dự án khai thác than bằng công nghệ khí hoá than ngầm dưới lòng đất hoặc công nghệ hầm lò ở huyện Tiền Hải hoặc Thái Thuỵ (Thái Bình); từ năm 2020, đầu tư bổ sung các cụm dự án khai thác than kết hợp với phát điện ở các huyện Hưng Hà, Đông Xương và Kiến Xương. Bể than ĐBSH sẽ được TKV phát triển trên cơ sở tuân thủ các qui định chung của các luật, phù hợp với đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH và nhân văn của địa bàn vùng lúa nước ĐBSH, đồng thời nó phải phù hợp với các định hướng chiến lược về đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, thúc đẩy các dự án khác trên địa bàn phát triển...

- Xin đồng chí cho biết những nét cơ bản về tài nguyên của bể than này?

+ Theo các tài liệu địa chất hiện có thì mật độ chứa than của bể than ĐBSH tương đối lớn, gồm có 2 vùng: Miền võng Hà Nội (chứa 210 tỷ tấn); dải nâng Khoái Châu (chứa 100 tỷ tấn); như vậy với trữ lượng thăm dò như trên, có thể nói bể than này sẽ góp phần làm thay đổi cơ bản bức tranh toàn cảnh về cân bằng nhiên liệu năng lượng của nền kinh tế Việt Nam và mở ra một hướng phát triển mới cho ngành Than. Căn cứ vào các khối kiến tạo địa chất và điều kiện tự nhiên thì toàn bộ bể than ĐBSH dự kiến được phân làm 8 khoáng sàng than, trong đó trên địa bàn tỉnh Hưng Yên sẽ có 3 khoáng sàng, tỉnh Thái Bình có 4 và Nam Định có 1. Căn cứ vào điều kiện mỏ - địa chất và mỏ - kỹ thuật, các khoáng sàng trên sẽ được phân thành các ruộng mỏ để xây dựng các mỏ (độc lập về mặt kỹ thuật có công suất 3 - 10 triệu tấn/năm, có trữ lượng đủ lớn để thời gian tồn tại của mỗi mỏ ít nhất từ 50 - 100 năm). Dự kiến của Tập đoàn là trọng tâm phát triển bể than ĐBSH sẽ thuộc các khoáng sàng than trên địa bàn tỉnh Thái Bình, trong đó khoáng sàng Kiến Xương và Tiền Hải là lớn nhất, có triển vọng cao nhất (chiếm 35% của bể than). Cũng vì vậy trong thời gian tới, ngoài việc thăm dò bổ sung khoáng sàng than Khoái Châu, Hưng Yên để phục vụ cho công tác thử nghiệm công nghệ, công tác thăm dò khảo sát địa chất của TKV sẽ tập trung chủ yếu ở tỉnh Thái Bình.

- Có không ít người lo ngại rằng, việc phát triển bể than ĐBSH sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới vựa lúa lớn thứ hai của đất nước. Như vậy, một điều kiện cực kỳ quan trọng là TKV sẽ phải áp dụng công nghệ nào để đảm bảo dưới khai thác được than mà trên vẫn cấy được lúa?

+ Đây là điều mà TKV hết sức quan tâm. Đặc điểm cấu tạo địa chất của bể than ĐBSH không giống như ở Quảng Ninh. Qua nghiên cứu các tài liệu địa chất hiện có, Công ty Phát triển năng lượng sông Hồng xác định công nghệ khai thác than ở đây, gồm: Khai thác hầm lò, địa công nghệ, nghĩa là khai thác than thông qua lỗ khoan, như khí hoá than ngầm, hoá lỏng than bằng enzim, hoà tan than bằng sức nước... Trong các cách này, TKV rất quan tâm đến công nghệ khí hoá than ngầm dưới lòng đất. Đây được xem là giải pháp hài hoà, phù hợp hơn cả. Hiện nay công nghệ này đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm phát triển và áp dụng cho các khoáng sàng than trong điều kiện tương tự như bể than ĐBSH. Chắc chắn là sẽ không thể khai thác bằng các công nghệ truyền thống như lộ thiên và hầm lò như ở Quảng Ninh được. Sản phẩm công nghệ khí hoá than là “khí tổng hợp” có giá trị sử dụng cao hơn rất nhiều so với sản phẩm của công nghệ khai thác lộ thiên, hầm lò truyền thống chỉ là than nguyên khai. Khí tổng hợp được thu từ khí hoá than ngầm cho phép áp dụng các công nghệ hiện đại và tiên tiến nhất, với hiệu suất cao hơn gấp nhiều lần (gấp gần 2 lần so với công nghệ lò tầng sôi và lò than phun của TKV hiện nay). Nói tóm lại, khí hoá than hầm lò được xem là một công nghệ năng lượng sạch được nhiều quốc gia đánh giá cao hơn so với điện nguyên tử.

- Như vậy trong giai đoạn tới đây, nhiệm vụ về thử nghiệm công nghệ để xác định được công nghệ chuẩn cho việc khai thác bể than ĐBSH là hết sức quan trọng?

+ Như tôi đã nói, bể than ĐBSH trải rộng qua 3 tỉnh, thành nên chúng ta hoàn toàn có thể triển khai đồng loạt nhiều mỏ để khai thác. Tuy nhiên, trong điều kiện các thông tin về địa chất mỏ còn rất hạn chế, để tránh rủi ro, việc triển khai các dự án thử nghiệm là hết sức cần thiết nhằm mục tiêu lựa chọn được những công nghệ phù hợp và có hiệu quả nhất, tận thu được tối đa nguồn tài nguyên có hạn của đất nước, bảo đảm mọi điều kiện để nhân dân trong vùng tài nguyên ổn định, phát triển, không ngừng nâng cao cuộc sống.

- Xin cảm ơn đồng chí và chúc TKV thành công trong việc khai thác hiệu quả tài nguyên, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng của quốc gia, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH của vùng ĐBSH!

Cùng chuyên mục