“Tạo được nhiều giống cây rừng chất lượng cao là niềm vui lớn nhất của tôi”

Tôi quen biết chị từ khi mới chập chững vào nghề báo. Và hình ảnh của chị trong tôi là một người phụ nữ kín đáo, khiêm nhường, rất say mê nghiên cứu khoa học. 30 năm say sưa, miệt mài nơi phòng thí nghiệm nuôi cấy mô, chị cùng với các đồng nghiệp của mình đã tạo ra nhiều giống cây rừng chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển rừng của cả nước. Giới chuyên môn biết tên chị vì chị là chủ nhiệm của nhiều đề tài nghiên cứu giống cây lâm nghiệp được đánh giá có tính ứng dụng rất cao, được nhận nhiều giải thưởng khoa học.

Thạc sỹ Trần Thị Doanh với phòng thí nghiệm nuôi cấy mô tại Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học và sản xuất lâm -nông nghiệp tỉnh.

Thạc sỹ  Trần Thị Doanh với phòng thí nghiệm nuôi cấy mô tại Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học và sản xuất lâm -nông nghiệp tỉnh.

(Thạc sỹ Trần Thị Doanh, Trưởng phòng Nuôi cấy mô, Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học và sản xuất lâm - nông nghiệp trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)

- Tôi tốt nghiệp Đại học Lâm nghiệp năm 1978, về công tác tại Trung tâm khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp (nay là Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng KH&SX lâm - nông nghiệp Quảng Ninh). Ngày đó, các đồng chí lãnh đạo Trung tâm đã bàn về việc sử dụng công nghệ sinh học thực vật trong sản xuất giống cây rừng nhưng do kinh phí hạn hẹp nên chỉ bàn rồi để đấy chứ chưa làm được! Mãi đến năm 1995, Trung tâm mới mạnh dạn xin UBND tỉnh và Bộ Khoa học - Công nghệ - Môi trường (nay là Bộ KH-CN) một dự án xây dựng nhà nuôi cấy mô, diện tích 380m2 với sự giúp đỡ về kỹ thuật của các chuyên gia Trung Quốc. Công nghệ nhân giống vô tính bằng phương pháp nuôi cấy mô có ưu điểm nổi bật là sản xuất được số lượng cây giống lớn chỉ trong thời gian ngắn từ nguồn vật liệu ban đầu hạn chế, cây giống sản xuất ra giữ được nguyên bản chất di truyền của vật liệu ưu trội. Do đó nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm tăng năng suất và chất lượng các sản phẩm được gây trồng trên diện rộng. Công nghệ này đã được sử dụng rộng rãi ở các nước Âu - Mỹ và các nước có nền khoa học công nghệ tiên tiến để sản xuất cây giống phục vụ cho ngành nông - lâm nghiệp ở quy mô đại trà.

Sau khi được UBND tỉnh đồng ý, Trung tâm đã quyết định thành lập Bộ môn nghiên cứu nuôi cấy mô với 3 kỹ sư và 6 cán bộ tốt nghiệp trung cấp lâm nghiệp. Tôi vinh dự là một trong những người đầu tiên được lãnh đạo Trung tâm tín nhiệm cử sang thực hiện công việc mới mẻ này. Với chuyên ngành được đào tạo là Lâm học, việc chuyển sang nghiên cứu công nghệ sinh học quả là quá mới mẻ và khó khăn. Mày mò học hỏi, tìm hiểu cuối cùng tôi cũng vỡ ra nhiều vấn đề và lao vào nghiên cứu... Rồi đam mê từ đó đến giờ!.

- Thử nghiệm thành công đầu tiên của chị trên công nghệ nuôi cấy mô là gì?

- Tôi mất khá nhiều thời gian nghiên cứu, làm đi làm lại, nhưng do hiểu biết và kinh nghiệm về công nghệ sinh học nói chung và nuôi cấy mô tế bào thực vật nói riêng, còn nhiều hạn chế, nên kết quả thu được mới chỉ thành công trên cây sa mộc. Song do những khó khăn về thị trường và kỹ thuật, sau đó sản xuất cây giống sa mộc bị ngừng lại. Ngày đó bí quyết công nghệ sản xuất cây giống bằng phương pháp nuôi cấy mô là một lĩnh vực bí mật, muốn có được thì phải tự mày mò nghiên cứu hoặc xin kinh phí để chuyển giao. Khi các chuyên gia Trung Quốc về nước, do Trung tâm không có kinh phí để chuyển giao công nghệ nên cả một cơ sở khang trang, thiết bị máy móc hiện đại đứng trước nguy cơ phải “đắp chiếu”. Hoàn cảnh buộc Trung tâm phải lựa chọn con đường nghiên cứu để phát triển. Lúc đó đồng chí Giám đốc Trung tâm đã trực tiếp gặp tôi trao đổi, bàn bạc và giao nhiệm vụ này cho tôi. Quả thật công việc này lúc đó với tôi quá nặng nề, bởi cùng ở thời điểm đó tôi gặp chuyện không vui trong hạnh phúc gia đình, một mình vật lộn nuôi con nhỏ trong điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tôi cùng các chị em trong Bộ môn đã phải rất vất vả, trải qua nhiều thí nghiệm thất bại, trong đầu tôi lúc nào cũng đầy ắp các công thức thí nghiệm, các nền môi trường nuôi cấy. Có những đêm trăn trở với vấn đề chưa được giải đáp tôi bế con lên phòng thí nghiệm làm việc suốt đêm. Sau 2 năm miệt mài nghiên cứu, năm 1997 tôi đã tìm ra quy trình nuôi cấy mô cho cây keo lai, tiếp đó là các loài cây khác như đu đủ, sở. Ban đầu đã áp dụng sản xuất được trên 3 vạn cây keo lai từ công nghệ nuôi cấy mô, mở ra triển vọng sản xuất cây giống chất lượng cao trên quy mô lớn.

- Được biết chị đã được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng thưởng Bằng Lao động sáng tạo vì có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu tạo giống bạch đàn U6. Và cũng công nghệ này, chị đã được UBND tỉnh trao tặng giải nhất trong Hội thi sáng tạo kỹ thuật lần thứ nhất năm 2007?

- Sau khi thành công trên cây keo lai, chúng tôi rất khao khát tìm ra môi trường nuôi cấy cho các loài cây mới. Lại tiếp tục nghiên cứu và lần này với kinh nghiệm đã có trên cây keo lai, chúng tôi nhanh chóng tìm được quy trình nhân giống cây bạch đàn E. urophylla dòng U6, công nghệ này nhanh chóng được đưa vào áp dụng và sản xuất được 200.000 cây giống. Đây là dòng bạch đàn có khả năng kháng bệnh cao, sinh trưởng mạnh và nhanh chóng khép tán, tỉa cành tự nhiên tốt, hình thái thân thẳng, đẹp, tính chất cơ lý khá. Do đó nó có ưu thế hơn hẳn trong việc bảo vệ và cải tạo đất, thích hợp với trồng rừng gỗ trụ mỏ, rừng nguyên liệu giấy và ván sợi trên nhiều dạng lập địa khác nhau. Với các ưu điểm trên dòng bạch đàn này đã được Bộ NN&PTNT công nhận là giống quốc gia và được khuyến khích trồng trên diện rộng. Sau một năm áp dụng công nghệ chúng tôi sản xuất được 600.000 cây giống và sang năm 2001 vượt lên 4,6 triệu cây, dự kiến năm 2008 sẽ sản xuất khoảng 8 triệu cây. Bạch đàn U6 được nhiều đơn vị trồng rừng trong cả nước tiếp nhận, từ những cây giống này sẽ cho nhiều cánh rừng cao sản năng suất cao, chất lượng tốt. Tôi tiếp tục nghiên cứu cải tiến môi trường nuôi cấy từ chỗ sản xuất phụ thuộc vào mùa vụ sang sản xuất quanh năm, nâng được sản lượng lên 8,5 triệu cây giống cung cấp cho thị trường khắp các tỉnh Bắc - Trung -Nam. Cùng với kết quả này, quy trình nhân giống nuôi cấy mô cho một số dòng bạch đàn khác cũng được tìm ra như PN2, PN14, BĐ6, Trị An 4, W5, GU108... Kết quả này góp phần không nhỏ vào việc thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng bằng nguồn cây giống chất lượng cao. Qua thực tế trồng rừng bằng cây giống mô hom so với cây hạt ở Quảng Ninh cho thấy cứ 1 ha mỗi năm lượng tăng trưởng tăng thêm là 5m3 và trong cả chu kỳ là 50m3 thì giá trị cây đứng tăng thêm là 10 triệu đồng/ha/năm. Đặc biệt lợi ích hiệu quả thu được từ dòng bạch đàn U6 rất lớn, vì vậy đã giành được huy chương vàng tại Hội chợ triển lãm “Tuần lễ xanh Quốc tế - Hà Nội” tháng 12-2002. 

- Hiện Trung tâm đang triển khai thực hiện một số đề tài nghiên cứu rau - hoa chất lượng cao, được biết chị cũng là một trong những người tham gia đề tài này. Theo chị, liệu với công nghệ này rau và hoa có thành công như với bạch đàn U6?

- Khoa học công nghệ hiện nay đang phát triển nhanh như vũ bão, thực tế cuộc sống luôn đòi hỏi những sáng tạo, khám phá mới. Qua những chuyến đi học tập trong và ngoài nước tôi nhận thấy rau và hoa cao cấp là những sản phẩm rất có giá trị, có sức cạnh tranh cao, có thị trường tiêu thụ rộng lớn và có khả năng xuất khẩu. Tôi đã đề xuất với lãnh đạo Trung tâm cho thực hiện đề tài nghiên cứu sản xuất một số loại rau, hoa cao cấp và đã được đồng ý. Các loại rau, hoa được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô giúp cho giữ nguyên bản chất di truyền của giống, tránh tình trạng thoái hoá giống làm giảm năng suất và chất lượng hoa. Kết quả đề tài nghiên cứu của chúng tôi là các loài hoa đồng tiền, phăng, cúc, ly, lan được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy tế bào khi trồng đảm bảo tỷ lệ sống cao, cây khoẻ mạnh, sản phẩm được thị trường đánh giá cao. Riêng đối với quy trình trồng rau sạch, chúng tôi đã hạn chế được dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh trong đất. Tất cả những kết quả nghiên cứu của chúng tôi đều nhanh chóng được ứng dụng ngay vào sản xuất và thể hiện hiệu quả rõ rệt...

Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT thì Phòng Nuôi cấy mô (Trung tâm NCƯD SXLNN) là một trong hai phòng nuôi cấy mô trên cả nước có công suất lớn nhất và hoạt động hiệu quả nhất, góp phần không nhỏ trong việc cung cấp các sản phẩm cây giống chất lượng cao cho kế hoạch trồng mới 5 triệu ha rừng và chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng trong nông nghiệp. Trước khi kết thúc buổi trò chuyện với tôi chị cho biết, do hoàn cảnh gia đình nên dự định trong năm tới sẽ chuyển công tác sang tỉnh khác. Tôi bỗng cảm thấy hụt hẫng, tiếc nuối như mất mát một điều gì đó. Xin cảm ơn những đóng góp của chị cho sự nghiệp phát triển nghề rừng của tỉnh!

Cùng chuyên mục