Tình yêu với cuộc sống đã giúp tôi thêm nghị lực

Nói tới những tấm gương thương binh tiêu biểu, đồng đội và nhiều người dân TP Hạ Long đã nhắc tới ông Nguyễn Đăng San, thương binh hạng 3/4, Chi hội trưởng Chi hội CCB khu 6, phường Giếng Đáy, TP Hạ Long, Giám đốc Công ty TNHH Hoà Bình. Mang trên mình bao mảnh đạn và di chứng chất độc da cam, nhưng bằng ý chí và nghị lực, ông đã vượt qua tất cả, từng bước vươn lên sống có ích cho xã hội, như lời Bác Hồ đã dạy “Thương binh tàn nhưng không phế”...

Thương binh Nguyễn Đăng San.

Thương binh Nguyễn Đăng San.

Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, 27- 7 (1947- 2007), chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông…Nhắc lại quá khứ chiến tranh, giọng ông San sôi nổi hẳn lên như trở lại thời trai trẻ và những năm tháng hào hùng của đất nước. Ông kể:

Quê tôi ở Kim Thành, Hải Dương. Tháng 4-1970, 18 tuổi, cùng với bạn bè, tôi lên đường nhập ngũ. Sau 6 tháng huấn luyện, tôi đi B và vinh dự được biên chế vào Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 (hay còn gọi là Trung đoàn Ba Gia - Vạn Tường là hai địa danh trung đoàn đã lập nên chiến công nổi tiếng ngày đầu đánh Mỹ). Tôi tham gia chiến đấu tại chiến trường Đường 9 - Nam Lào, cao nguyên Bôlôven (Lào), chiến đấu giải phóng Đắc Tô, thị xã Kon Tum, giải phóng thành phố Đà Nẵng… Đã có bao đồng đội của tôi ngã xuống ở những trận đánh ác liệt này. Tôi may mắn sống sót nhưng cũng bị thương tới ba lần. Hiện trong người tôi vẫn còn 8 mảnh đạn, cứ trở giời lại đau nhức, nhưng đành cứ phải để cho nó “ngủ” yên ở trong đó, không gắp ra được...

+ Tham gia nhiều trận đánh như vậy, ông hẳn có rất nhiều kỷ niệm sâu sắc  trong quân ngũ ?

- Có nhiều chuyện để mà nhớ, nhưng nhớ nhất trận đánh tại bản Sê Pôn, thuộc tỉnh Savanakhet (Lào). Khi đơn vị tôi vào bản thì cả bản chỉ còn lại duy nhất cô gái Lào bị liệt hai chân không đi được. Cô gái sợ hãi, nhưng sau đó đã an tâm khi biết chúng tôi là bộ đội Việt Nam. Tôi an ủi và đưa cho cô gái gói gạo rang và một bánh lương khô, anh Lâm tiểu đội trưởng lấy xô đi múc 1 xô nước về để bên cạnh cho cô gái. Chúng tôi lên cao điểm không tên vừa chiếm được của địch thì máy bay địch quay lại bắn phá, chúng dội bom suốt từ 12 giờ - 17 giờ, một số đồng chí trong tiểu đội đã hy sinh. Cuối buổi chiều, chúng tôi gấp rút rời khỏi trận địa, trở lại bản vẫn gặp cô gái nọ. Biết nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh, cô ấy đã khóc. Tôi để lại thêm cho cô mấy gói cơm sấy vừa mang từ chốt về rồi tạm biệt. Nhiều lúc cứ suy nghĩ không hiểu cô ấy giờ có còn sống không…

+ Trở về sau chiến tranh và là một thương binh nặng, đâu là giai đoạn khó khăn nhất với ông?

- Tháng 8-1975, tôi ra quân và bị sốt rét tưởng chết. Sau đó tôi chuyển ngành công tác tại ngành Than. Tôi xây dựng gia đình và đây là thời kỳ khó khăn nhất với tôi. Chất độc da cam từ chiến trường Nam Lào ngấm vào cơ thể, khiến cho vợ chồng tôi sinh mấy lần nhưng không được vẹn tròn. Đau đớn lắm nhưng tôi cố động viên vợ. Ngoài thời gian làm việc ở cơ quan, tôi tranh thủ làm thêm các nghề phụ để lấy tiền chữa bệnh cho mình. Cho mãi tới năm 1983, vợ chồng tôi mới sinh được 1 cháu gái, hiện cháu đang du học ở Nhật nhưng bản thân cháu cũng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Dù vậy, tôi cũng đã thấy mình may mắn hơn nhiều đồng đội khác rất nhiều…

+ Điều gì đã giúp ông vượt qua khó khăn, từ một thương binh hạng 3/4 trở thành một giám đốc doanh nghiệp có gần 100 lao động, làm ăn khá phát đạt như ngày hôm nay?

- Tôi quan niệm không bao giờ ỷ lại, hơn nữa cái chính là mình phải biết yêu cuộc sống, yêu những giá trị mà đất nước ta, dân tộc ta đã phải đánh đổi xương máu mới giành được để có ngày hôm nay.

+ Mới đây, trên một tờ báo nọ có đề cập tới chuyện ông tặng bộ vi tính giúp ông Lê Văn Cam ở Thái Bình tìm tin tức liệt sĩ. Cụ thể câu chuyện này như thế nào, thưa ông?

- Chuyện này kể thì hơi dài. Số là ngày 9- 6- 1971, trong trận đánh tại một cao điểm thuộc Đồng Hến, Nam Lào, tiểu đội trưởng của chúng tôi là anh Tô Ngọc Lâm đã bị thương thủng bụng, ruột xổ ra nhưng anh vẫn cố giấu để chỉ huy anh em chiến đấu. Trận đánh kết thúc cũng là lúc anh ngã xuống, trước khi hy sinh, anh căn dặn: Hoà bình nếu em nào còn sống hãy về quê anh ở Thái Bình kể lại cho gia đình anh về trận đánh này… Hơn 30 năm qua, mang theo lời dặn của anh, tôi đã đi và hỏi tìm rất nhiều cơ quan quân sự, chính quyền địa phương của tỉnh Thái Bình nhưng không tìm được quê anh ở đâu. Cho tới năm 2006 vừa rồi, qua báo chí, tôi biết được có ông Lê Văn Cam, trú tại xóm 10, thôn Đông Hạ, xã Vũ Phúc, TP Thái Bình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu thốn, tuổi ông lại cao nhưng suốt hơn 10 năm trời, với chiếc xe đạp cọc cạch, ông đã mở cuộc hành trình tới khắp các chiến trường, sang cả nước bạn, lần tới từng nghĩa trang, trận địa xưa để tìm ra hơn 21.000 phần mộ liệt sĩ để báo cho gia đình họ. Tôi viết thư nhờ ông Cam tìm địa chỉ của anh Lâm và ông đã nhanh chóng tìm ra. Tôi đã khóc như một đứa trẻ khi nhận được thư báo tin của ông. Sau chuyến đi tìm về quê anh Lâm, tôi đến thăm gia đình ông Cam, cảm kích trước việc làm đầy nghĩa tình của ông, tôi đã xin tặng ông 1 bộ máy vi tính để ông làm việc đỡ vất vả hơn. Vật chất không đáng kể, cái chính là tấm lòng của tôi với một đồng đội, vì ông Cam cũng là một CCB.

+ Người ta bảo “thương trường là chiến trường”, ông nghĩ điều đó có đúng không?

- Tất nhiên mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng dưới góc độ nào đó thì quả như vậy! Công ty THHH Hoà Bình của tôi thành lập từ năm 2002, chuyên sản xuất vật liệu xây dựng, ngoài ra còn nhận san gạt các công trình. Hiện chúng tôi có xấp xỉ 100 lao động, trong đó 40% là CCB, con em các đồng đội, doanh thu năm vừa rồi khoảng 4 tỷ đồng, phấn đấu năm nay gấp đôi con số như thế. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ cố gắng mở rộng sản xuất, nhận thêm các công trình, đầu tư thêm máy móc, thiết bị. Được cái, mình làm ăn cũng được bạn hàng “tín” nên sản phẩm làm ra bao nhiêu tiêu thụ hết bấy nhiêu…

+ Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!.

Cùng chuyên mục