Tôi ra Côn Đảo bằng thơ

Hôm ở TP Hồ Chí Minh, anh Nguyễn Quang Thọ, Tổng biên tập báo YÊU TRẺ bảo tôi: ''Chú ra Côn Đảo thì hỏi xem tàu chạy như thế nào... chứ không...''. Biết anh lo mà tôi cứ sà rắn, coi là chuyện vặt.

 Hai hôm sau, tôi tới bến xe miền Đông. Chưa hết buổi sáng, tôi đã có mặt ở Vũng Tàu. Thật chết cười, tôi thay bốn ông xe ôm mà cả bốn đều bỏ của chạy lấy người vì họ không thể tìm được Hội Văn nghệ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ở đâu. Trời đã trưa, bụng đói mà tìm chẳng ra. Tôi vào một nhà hàng gọi suất cơm bụi, la cà hỏi chủ quán về Hội Văn nghệ (HVN) nhưng chủ quán cũng lắc đầu ''Không biết''. Lúc bí lại nảy trí khôn, tôi xin chủ quán một cuộc điện thoại nội thị. Qua dịch vụ 1080, tôi biết ngay địa chỉ cần đến.

Tôi ra Côn Đảo bằng thơ ảnh 1
Trung tâm Quân - Dân y trên huyện đảo Côn Đảo

Tôi đến đó vào cuối buổi trưa, đành ngồi đợi ở một quán nước cạnh trụ sở Hội, ông chủ quán tốt bụng, bảo:

''Chú ngồi đó đợi, ở đây họ làm việc muộn”. Tới 1h30' chiều, chủ quán bảo: ''Có người đến đó!''. Tôi chia tay ông chủ quán tốt bụng và bước vào trụ sở Hội. Sau một hồi trao đổi, tôi được biết HVN ở đây cũng mắc kẹt khi đưa hội viên ra đó. Nhưng tôi vẫn phật ý thế nào... song xét lại, việc họ sợ không chu đáo được với khách đường xa cũng lẽ thường tình. Tôi bèn quyết định làm cuộc hành trình một mình không cần sự trợ giúp. Điểm đại diện của Ban quản lý bến tàu (Bến Đầm) tuyến Côn Đảo cách đó không xa. Tiếp tôi là một người đàn ông có nước da bánh mật dỏng cao, tuổi ngoại tứ tuần. Anh cho biết: Phải một tuần nữa mới có tàu ra. Nghe vậy, tôi muốn kêu giời vì tuần nữa, tôi làm gì còn thời gian kia chứ? Người đàn ông nọ bảo tôi nên về TP Hồ Chí Minh đi những nơi khác rồi ra Côn Đảo sau. Chuyện này không dễ dàng gì, tôi bảo thế vì đi nơi khác sẽ nhiều việc phát sinh, chắc không còn cơ hội quay lại. Ngập ngừng một lát, tôi rút trong cặp một tập thơ, ghi vội mấy dòng rồi trao cho người đàn ông nọ, nói: Tôi từ vùng Than Quảng Ninh, sắp xếp mãi, chắc phải có duyên phận mới lặn lội đường xa tới đây! Nhưng đến rồi mới hay mình vô duyên. Vì vậy, tôi muốn nhờ anh chuyển giúp tập sách ra Côn Đảo gọi là tôi đã tới đó. Anh nhận sách, ngó qua phần tác phẩm đã in rồi hỏi tôi:

- Anh là nhà thơ?

Tôi gật đại. Sau đó, tôi chào rồi ra về.

Tôi đi chừng mươi mét thì anh gọi lại và bảo tôi đợi anh một lát! Tôi quay lại với chút hy vọng mong manh.

5 phút sau, anh từ phòng trong bước ra, tươi cười bảo tôi:

- Được rồi anh ạ! Sếp em đồng ý bố trí anh đi vào chuyến tàu CĐ9, xuất phát tại bến Hải Đoàn lúc 16h hai ngày nữa nhưng anh chịu khó ngồi cùng với anh em thủy thủ chứ chỗ dành cho khách hết rồi.

Tôi đồng ý, đó là chuyện vặt. Dừng một lát, anh tiếp, để tiện cho tôi ra đó làm việc, tôi nên vào UBND tỉnh lấy một giấy giới thiệu! May quá, Chánh văn phòng UBND tỉnh đang có mặt tại phòng văn thư, ngó giấy giới thiệu của tôi, ông liền đưa cho cô thường trực văn thư nói:

- Em viết một giấy chuyển sang bên Sở Văn hóa - Thông tin để họ quản lý, bố trí! Rồi ông bảo tôi:

- Sở Văn hóa - Thông tin ở bên kia! Anh sang đó có người lo, bảo đảm cho anh đi an toàn! Rất may, ông Thái Văn Dũng, Giám đốc Sở, đang ở nhà. Ông coi giấy giới thiệu của UBND tỉnh rồi phán: ''Tốt rồi, tôi bố trí ông sang khách sạn bên kia nghỉ, ngày mốt tôi viết giấy giới thiệu để ông đi!''.

Sang ngày thứ ba, tôi đi chào ông Dũng, chào anh Võ Ngọc Minh, Trưởng Ban Tuyên giảo Tỉnh ủy và mọi người mới quen ở Vũng Tàu như anh Nguyễn Đình Thống... Tranh thủ ăn trưa rồi chuẩn bị hành lý, ba giờ chiều ra bến tàu mà vẫn cập rập. Anh Đinh Quang Đông, trưởng phòng kế hoạch của Ban quản lý cảng Bến Đầm (người tiếp tôi hôm nọ) cũng có mặt ở đó, anh giúp tôi lên tàu rồi giới thiệu tôi với thuyền trưởng và anh em thủy thủ...

Sáng hôm sau, tàu cập cảng Bến Đầm. Mặt trời ló rạng ở mép một ngọn đồi trước mặt, nhưng đám mây đen như kết tủa từ màn đêm loãng dần rồi phiêu đãng mênh mang trên bầu trời Côn Đảo. Tôi bắt xe ôm vào trung tâm huyện. Không khó khăn gì, xe ôm đưa ngay tôi tới nhà Trưởng Phòng Văn hóa Nguyễn Văn Tư! Té ra anh Tư cũng vừa ở Bến Đầm về, ngó lại thì ra, chúng tôi đã gặp nhau tại bến Hải Đoàn hồi chiều qua nhưng Tư đi tàu chở hàng. Anh bảo, anh đưa tôi sang nhà ông Bảy Oanh, tù chính trị Côn Đảo, đang phụ trách khu bảo tàng trưng bày di tích cách mạng Côn Đảo để tiện tìm hiểu. Cơm trưa xong, anh sang bảo, chiều có đoàn khách tham quan, anh muốn tôi đi theo đoàn để tiện tham quan những khu di tích! Tôi đồng ý, có hướng dẫn viên nên không phải mày mò thế nào chuồng cọp thời Pháp, chuồng cọp rồi chuồng bò thời Mỹ, tích bà cậu Côn Lôn đến chuyện xuất xứ tên gọi cây cầu Ma Thiên Lãnh hoặc nơi có tên gọi An Sơn Miếu cùng một khách sạn duy nhất bề thế mang tên bà Hoàng Phi Yến (thứ phi của chúa Nguyễn ánh). Nghe thuyết minh, mới hay người tù đầu tiên ở Côn Đảo lại là thứ phi của chúa Nguyễn, người giam cầm bà chính là chồng bà (chúa Nguyễn Ánh). Chiều đó, tôi la cà ở một quán bia trong hẻm, vừa vào đã có người hỏi tôi:

- Chú là nhà thơ ở ngoài Bắc mới ra hồi sáng phải không?

Tôi giật mình! Quan sát người vừa hỏi, đấy là một người trạc ngoại sáu mươi, giọng Nam Bộ. ông thay chủ quán đẩy chiếc ghế về phía tôi nói tiếp:

- Chú ra đây nhớ viết cái gì về Côn Đảo nghe không!

Tôi dạ vâng theo lối giao tiếp cần thiết thì ông giải thích:

Chú băn khoăn vì sao tôi biết chú chứ gì? Dân Côn Đảo thưa, ngoài dân bản địa, dân chài lưới trên biển còn khách có mấy ai chứ? Nhất là những khách đi lẻ như chú. Chỉ một thoáng là cả đảo biết chú là ai!

Thấy ông xởi lởi, hay chuyện tôi gợi những chuyện cần biết. Ông tự giới thiệu, ông tên là Mười Quang là dân mới sinh sống ở đây sau ngày giải phóng chứ không liên quan gì đến tù Côn Đảo, còn vì sao tôi biết chú hả? Hồi sáng ngồi quán nước, nghe chú Đông bên quản lý bến tàu kể. ông hỏi tôi muốn trò chuyện với tù chính trị Côn Đảo hả? Ông Bảy Oanh đó, còn mấy người nhưng vắng cả, chỉ có ông Mười Nhàn đang ở đảo! ông nói rồi dùng điện thoại của chủ quán... 10 phút sau, một người cỡ tuổi gần bảy mươi, mái tóc muối tiêu, da trắng, dáng nho nhã xuất hiện. ông Mười Quang nói:

- Đó... đó... ông Mười Nhàn đích thị tù chính trị Côn Đảo đó. ông quay sang nói với người mới tới: Đây là chú nhà thơ ở Quảng Ninh ra hồi sáng muốn hỏi chuyện ông về tù ở Côn Đảo nè.

Chúng tôi vào chuyện rất nhanh. Ông Mười Nhàn kể lại, ông từng tập kết ra Bắc, đã xuống Hòn Gai. Năm 1969, ông bị bắt rồi tù ở Côn Đảo cho đến ngày miền Nam giải phóng, khi bị bắt ông đã chuyển sang dân sự và oái oăm lại là trên đường về thăm vợ. Ông kể rồi cười, cười một cách sảng khoái nhưng trong tiếng cười, tôi nghe như có nước mắt và nỗi đau đang vò xé trong ông. ông bảo, 30-4 chính quyền Sài Gòn đầu hàng, miền Nam giải phóng nhưng Côn Đảo phải là 1-5! Tin miền Nam giải phóng đến từ chiều 30-4 nhưng anh em tù không dám tin vì e chúng dụ để lấy cớ thủ tiêu hàng loạt...

Hôm sau, Tư đưa tôi đến gặp anh Đỗ Xuân Cang, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện. Cuộc hội ngộ khá bất ngờ, bởi anh Cang lại là dân Nam Định, anh tâm sự rất thật, anh đã từng là bộ đội, là thương binh phục viên rồi làm ở Đài Truyền thanh thành phố Nam Định, có chút vâæn đề tế nhị, anh xin nghỉ chế độ một lần. Công việc kiếm sống ngày càng khó khăn. Năm 1990, anh đọc trên báo Tiền Phong một bài báo viết về Côn Đảo của tác giả Thanh Thư với tiêu đề ''Côn Đảo niềm vui và những điều trăn trở''. Bài báo đề cập tới vấn đề nhạy cảm của tâm linh! Côn Đảo đã được giải phóng, ngày một thay da đổi thịt nhưng cõi tâm linh tại nghĩa trang Hàng Dương còn nhiều vâæn đề - tác giả cho biết, mỗi khi gió biển thổi vào làm trơ cả những bộ hài cốt vô danh không người chăm sóc... hình ảnh ấy cứ ám ảnh anh, anh viết cho lãnh đạo Côn Đảo hai bức thư đầy tâm huyết về tâm linh, và những bộ hài cốt chưa được chăm sóc ở Côn Đảo. Cuộc sống ngặt nghèo, anh cũng mạo hiểm, anh viết rằng, anh muốn ra Côn Đảo sống chỉ xin làm dân thường và đề cập rất cụ thể, anh xin một miếng đất ở cạnh nghĩa trang Hàng Dương, một ít tôn, tre gỗ gọi là đủ dựng một mái lều và sáu tháng lương thực để sống một mình thời kỳ đầu. Và anh nhận được thư của ông Sáu Chương, phụ trách văn hóa thông tin quận Côn Đảo (tên gọi hồi bấy giờ), trong thư, Sáu Chương nói, lãnh đạo quận Côn Đảo đã đồng ý tất cả các đề nghị của anh. Anh dặn vợ, con ở nhà gắng nuôi nhau, anh phải ra đi tìm đường cải thiện cuộc sống và làm những điều anh muốn. Câu chuyện về anh cảm động và như có cả vị mặn mòi của nước mắt, anh rời xa vợ con, rời xa quê hương vào hối cuối năm 1990, vợ anh nhặt nhạnh tất cả những gì có giá đem bán để cho chồng giắt túi mang đi. Vậy mà, vào đến nơi lại gặp mùa gió chướng, anh nằm chờ ở Vũng Tàu trên 20 ngày, tiêu đến đồng tiền cuối cùng, lúc có tàu ra thì không còn tiền mua vé. May mà ở Vũng Tàu, anh gặp được Sáu Chương. Sáu Chương vào họp trong đất liền nhưng cũng mắc kẹt về giao thông. Sáu Chương cũng chẳng đủ tiền mua vé cho anh mà chỉ giúp anh lấy chứng minh thư ký gửi lại bến tàu để đổi lấy vé ra Côn Đảo. Được cái Côn Đảo ngày ấy, dù còn hoang vu nhưng anh đã gặp được luồng gió mới, chính quyền Côn Đảo cấp ngay cho anh một căn hộ đủ sinh hoạt. Còn việc làm hả? Sáu Chương bảo: ''Anh làm với tôi! Còn làm gì thì anh biết rồi, ở đây có hàng vạn hài cốt vô chủ. Nếu một mình anh làm biết đến bao giờ mà chắc gì người ta cho anh làm kia chứ? Theo tôi, anh lập một kế hoạch...!''. Vậy là, anh như diều gặp gió... Hai năm sau, anh về quê đón vợ con ra Côn Đảo sum họp. Tôi biết, trong cuộc quy hoạch tổng thể nghĩa trang Hàng Dương, nơi yên nghỉ bao nhiêu anh hùng có danh và vô danh đã hiến dâng xương máu cho Tổ quốc đã có một chút sức lực của anh.

Anh Hai Thành, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc huyện, lại có một duyên nợ khác với Côn Đảo! Quê anh ở Mỏ Cày - Bến Tre, anh tham gia kháng chiến chống Mỹ tại quê nhà nhưng cha anh là tù chính trị Côn Đảo. Ngày giải phóng, không thấy cha về, anh ra Côn Đảo để tìm cha nhưng đến nơi, cha anh đã về quê rồi! Đấy có lẽ là cái duyên với Côn Đảo của anh. Vợ chồng Nguyễn Văn Tư, Trưởng phòng VHTT là dân Cần Thơ, cả hai người đều là thanh niên xung phong, họ thành cư dân ở đảo từ sau thập niên 80. Mỗi chuyện về họ đều có một nét rất riêng. Anh Nguyễn Khắc Lợi quê ở Hưng Yên là giáo viên chuyên toán loại giỏi cũng có một hoàn cảnh trôi dạt của dòng đời. Những người trẻ tuổi như Đặng Văn Sử (Chánh án Tòa án nhân dân huyện hiện nay) lại có một cách nghĩ khác! Sử bảo: Em chấp nhận tất cả miễn sao cuộc sống dễ thở hơn. Sử kể, gia đình em ở Thanh Hóa, tốt nghiệp đại học Luật... Tóm lại, như cách nói của anh Cang thì dân Côn Đảo trừ những người như ông Bảy Oanh, ông Mười Nhàn... Họ là tù chính trị của chế độ cũ hoặc có duyên như anh Hai Thành! Còn lại, hầu hết là dân ở ba miền Bắc, Trung, Nam đều có những hoàn cảnh thật đặc biệt... Thừa nhận, Côn Đảo có một không gian xanh, một môi trường xanh, một tình người có thể dùng đến cụm từ một màu xanh thanh bình, khá hoàn mỹ, họ ngủ đêm hoặc đi uống rượu hàng nửa ngày không cần đóng cửa. Cuộc sống ở đây khá ổn định về mọi mặt kinh tế, chính trị và xã hội.

Sáng ngày thứ tư xem thông báo có chuyến tàu vào đất liền, anh Cang mua vé cho tôi. Tối đó, anh Lợi có nhã ý làm cơm chiêu đãi và cũng là bữa cơm liên hoan để tiễn tôi về đt liền. Buổi chiều, tôi tranh thủ lấy xe máy của Nguyễn Văn Tư đi những nơi cần thiết, ngó lại một lượt những địa danh như nghĩa trang Hàng Dương, An Sơn Miếu, định vòng lên sân bay Cỏ Ống thì xe chết máy hết xăng, may nhờ được chú bộ đội nhưng phải đợi mất gần tiếng đồng hồ thế là hết sang Cỏ Ống... Khi mặt trời tà tà xuống núi, tôi, anh Cang, anh Hai Thành cùng Tư và Sử vất xe máy ở ngoài đường đi tắt qua khu vườn rộng cách đường chừng vài trăm mét để vào nhà anh Nguyễn Khắc Lợi uống rượu. Tôi kể chuyện phải coi xe đợi xăng hồi chiều, Tư nói:

- Sao ông không vất xe ở đó, theo xe người ta về rồi tôi chở ông ra!

Tôi bảo vất đó sao được, mất của ông thì có mà... anh Cang bảo, ông ra đường xem xe có mất không? Anh Hai Thành thêm, anh có một đàn cả trâu lẫn bò đến vài chục con mà sáng thả đi ăn, tối tự về, ít khi phải quan tâm đến chúng. Anh Lợi góp vui: ''Có vậy chú Sử mới rảnh tay mở thêm dịch vụ''. Chúng tôi cùng cười, các món nhắm do chị Nguyện (vợ anh Lợi) chế biến theo kiểu tạp phế lù nửa Nam, nửa Bắc. Vậy mà ăn lại ngon, uống rượu lại vào mới lạ chứ! Sáng hôm sau, Sử đưa tôi đi thăm một số địa điểm sản xuất đồ mỹ nghệ của mình. Sử nói, em cố mở rộng vì ở đây cũng chưa đáp ứng cho cầu được. Theo đánh giá của Sử thì làm ăn ở Côn Đảo khá dễ! Sử ví dụ là nhà Sử có một chú em ở quê ra, chỉ làm một nghề đưa khách từ các tàu đánh cá vào bờ bằng ghe nhỏ, một ngày chở trăm khách là được vài trăm ngàn đồng. Tôi hỏi gian hàng mỹ nghệ của Sử nguồn thu nhập chừng nào? Sử bảo, cũng đủ trang trải sinh hoạt trong gia đình, có dư chỉ đôi chút vì một mình vợ Sử xoay xở,  lại còn con mọn. Cái bất tiện nhất ở đây là giao thông. Đi vào đất liền chủ yếu là đường thủy mà lại xa tới cả 100 hải lý, giao thông trên đại dương chịu chi phối nhiều về thời tiết! Thậm chí, thời tiết tốt đấy nhưng có đủ khách hay không? Hoặc đủ hai yếu tố rồi vấn đề thiết bị có đảm bảo an toàn hoạt động đến 12 tiếng trên đại dương hay không cũng là điều cần bàn. Khó nhất vẫn là bị bạo bệnh, phải cấp cứu! Nhà nước có chế độ hỗ trợ 3/4 tài chính cho những trường hợp cấp cứu phải dùng phương tiện máy bay nhưng còn 1/4 bệnh nhân vẫn phải lo. Một vấn đề thật khó, chủ trương của đảo là thành lập trạm Quân - Dân y nhưng vẫn nằm trong dự án chứ không dám nói một sớm, một chiều được... Tôi hỏi: ''Sao đây không dùng tàu cao tốc?'' Sử giải thích vấn đề không phải là không nghĩ tới mà loại tàu này không thể chạy được trên đại dương vì sóng to. Do đó, giao thông vào đất liền vẫn là vấn đề chưa thể giải phóng với người dân trên đảo nhất là vào mùa gió chướng.

4h chiều hôm đó, tôi chào Côn Đảo để xuống tàu vào đất liền. Hoàng hôn lan giữa biển chiều sóng vỗ. Đêm xuống, tôi đi lại trên nóc tàu chán, quay lại giường nằm thì có tiếng trẻ con khóc, khóc mãi không dứt, khóc liên hồi, tôi ở xa nơi phát ra tiếng khóc cũng sốt ruột. Một chàng trai khá trẻ ghé lại chỗ tôi, cậu ta nói với tôi cứ y như tôi có thể giải quyết được vụ trẻ khóc không bằng. Tôi nhìn cậu ta, hỏi:

- Có mẹ cháu bé ở đó chứ?

- Có ạ nhưng dỗ không nổi!

- Thế cậu là gì với cháu bé? Tôi hỏi.

- Không! Em cũng là khách cùng tàu thôi nhưng cháu nó khóc quá, anh xem thế nào?

Một câu hỏi quá khó với tôi. Tôi hiểu gì về chuyện dỗ trẻ kia chứ? Nhưng để chia sẻ với chàng trai, tôi theo cậu ta đến chỗ có em bé đang khóc, đó là một bé gái chừng hai tuổi, người mẹ còn trẻ, tóc rối tung vì con quấy chỉ mua ghế ngồi ở phía cuối tàu. Nom chị lộ vẻ lo lắng, tôi hỏi thì được biết, cháu bị hâm hấp sốt lâu rồi, chị đưa cháu vào đất liền khám nhưng cháu cứ khóc dỗ thế nào cũng không được. Tôi bảo, tôi đổi vị trí cho chị ru cháu ngủ, xem cháu có chịu không! Nhưng chị bảo đã thử ở những chỗ khác mà không được. Nói rồi, chị lầm lũi bế con xoay hết chỗ này sang chỗ khác. Tôi nhìn cậu thanh niên có ý bảo, cậu hãy thông cảm cho tôi, tôi không có tài như cậu nghĩ đâu. Tiếng khóc của đứa trẻ vẫn không ngừng. Đêm bồng bềnh, chao đảo giữa đại dương mênh mang. Tôi bỗng nhớ điều mà ông Mười Quang nói: ''Những khách đi lẻ như chú ra đây một loáng là cả đảo biết rồi.''... Rồi anh Cang bảo: ''Chú ra đây, túi một máy ghi âm, ngực đeo máy ảnh đi khắp đảo... Nếu dân đảo không tin chú sao để chú tự do như vậy chứ?''.

Năm 2004, anh Cang có gửi cho tôi một bản báo cáo của Hội Chữ thập đỏ Côn Đảo, một bức thư, hai tấm ảnh chụp Trung tâm Y tế, một ảnh ngày cuối cùng làm việc của Trung tâm Y tế cũ của huyện, một tấm chụp Trung tâm Quân - Dân y trước giờ tuyên bố khánh thành ngày 9-5-2003. Trong thư, anh cho biết, Trung tâm có vốn đầu tư 10 tỷ đồng, trang bị những thiết bị hiện đại, tốt hơn trước rất nhiều, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho quân - dân trên đảo, có các phòng chức năng như siêu âm, tâm đồ, não đồ, xét nghiệm sinh hóa tự động và bán tự động, có cả khoa y học cổ truyền... Có khả năng sơ cứu và tự giải quyết được các ca phẫu thuật trung bình và nhỏ. Năm 2004 cũng là năm Trung tâm Quân - Dân y huyện nối được mạng với Bệnh viện Chợ Rẫy - thành phố Hồ Chí Minh có thể hội chẩn từ  xa. Đặc biệt là có phòng mổ ngầm để đề phòng chiến sự xảy ra. Trung tâm có kết quả hoạt động khá khả quan, đã giải quyết thành công nhiều ca hiểm nghèo. Thậm chí, đã cấp cứu thành công hai ca ngộ độc do uống rượu với cá nóc... Như thế, có thể nói là một việc lớn ở Côn Đảo đã được giải quyết.

Trước khi hoàn thành bài viết này, tôi có liên lạc lại Côn Đảo, anh Cang cho biết. Côn Đảo giờ đã thay đổi nhiều lắm với thời tôi ra (tháng 3-2001), nhất là về du lịch đã có khách sạn ba sao của tour du lịch Sài Gòn. Giao thông có máy bay loại APR72 chở được 68 hành khách, mỗi tuần 13 chuyến bay vào TP Hồ Chí Minh và ngược lại. Giao thông thủy có thêm tàu khách CĐ10, tải trọng 220 khách. Tuy nhiên, giao thông thủy vẫn cứ phải lệ thuộc vào cả ba yếu tố: Thời tiết - hành khách và thiết bị.

Vẫn bài toán về giao thông! Vì đâu phải ai cũng có tiền đi máy bay kia chứ? Trong tôi vẫn như còn văng vẳng tiếng khóc của em bé trên chuyến tàu lênh đênh trên biển về đất liền ngày nào!

Hạ Long, tháng 3-2010

Cùng chuyên mục