"Trong mơ tôi vẫn thấy đồng đội gọi tên mình..."

(Cựu chiến binh Nguyễn Bá Sơn, trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)

Tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Bá Sơn, cựu chiến binh thuộc Binh đoàn Than năm xưa, trong một con ngõ nhỏ thuộc phường Hồng Hà, TP Hạ Long. Lục lại trong gần chục album cũ kỹ, ông Sơn đưa tôi xem tập ảnh về những lần “đi tìm đồng đội” trong những năm tháng qua của mình với đôi mắt đầy xúc động. Và câu chuyện của chúng tôi xoay quanh nỗi niềm đau đáu trong nhiều năm đi tìm mộ đồng đội của cựu chiến binh Nguyễn Bá Sơn...

- Điều gì đã thôi thúc ông bỏ ra bao năm trời để cất công đi tìm hài cốt đồng đội như vậy, thưa ông?

+ Sau ngày giải phóng, lúc nào tôi cũng nghĩ đến anh em đồng đội. Suy nghĩ ấy thôi thúc bước chân tôi trở lại chiến trường xưa để tìm và đưa anh em trở về quê cha đất mẹ. Tôi nghĩ đó là công việc mà những người lính chiến may mắn còn sống như tôi phải làm để giữ trọn chữ “Tình” với đồng đội. Cứ nghĩ đến cảnh anh em đi chiến đấu cùng nhau, mình thì được về với vợ con trong khi nhiều đồng đội phải nằm lạnh lẽo dưới lòng đất, chưa được trở về quê hương, tôi lại đau lòng. Nhiều gia đình liệt sĩ ở nông thôn lại rất nghèo, không đủ điều kiện để đi tìm, thông tin lại rất ít… Đó là điều làm tôi không yên tâm.

- Và ông bắt đầu đi tìm đồng đội từ khi nào ạ?

Ông Nguyễn Bá Sơn (thứ nhất, phải sang) trong một đợt đi tìm đồng đội ở Kon Tum. (Ảnh do ông Sơn cung cấp)
Ông Nguyễn Bá Sơn (thứ nhất, phải sang) trong một đợt đi tìm đồng đội ở Kon Tum. (Ảnh do ông Sơn cung cấp)

+ Năm 1993, tôi, chú Ân, chú Hùng, hai đồng đội cũ của tôi, trở lại chiến trường xưa thăm lại những nơi đã mai táng anh em. Đợt này, BCHQS tỉnh cử thêm 6 cán bộ đi cùng đoàn. Chúng tôi tìm được hài cốt các liệt sĩ Bùi Văn Thái, Nguyễn Hữu Tưởng, Nguyễn Văn Kiểm, Nguyễn Văn Thư, Nguyễn Văn Bần, Hàn Văn Canh, Trần Văn Bảo, Hùng Hoan, Lê Văn Tâm. Năm 1997, tôi và chú Thái, chú An, chú Hạt tiếp tục trở lại chiến trường xưa tìm ở các trận địa, nơi mai táng anh em ở huyện Đăk Tô, Kon Tum. Lần này, tìm được 16 đồng đội Quảng Ninh cùng với 335 đồng đội ở các tỉnh khác đã được đưa vào nghĩa trang Kon Tum. Không dừng lại ở đó, lần thứ 3 trở lại chiến trường Tây Nguyên trong vòng 2 tháng trời, chúng tôi tìm kiếm anh em nằm lại ở Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk. Đến Gia Lai chúng tôi kết hợp với Binh đoàn Trường Sơn và tìm được 61 đồng đội; đến Đăk Nông tìm được 413 đồng đội ở huyện Đăk Mil…

- Có người nói, ông có khả năng dùng phương pháp ngoại cảm để tìm hài cốt liệt sĩ?

+ Ấy chết! Họ đồn như vậy đấy chứ tôi đâu phải nhà ngoại cảm. Tôi chỉ là một người lính bình thường, nay về già thấy có nghĩa vụ với đồng đội nên đi tìm. Nếu có gì đặc biệt ở đây thì đó là nghĩa tình đồng đội, đồng chí. Tôi dựa vào những ký ức trong những năm tháng chiến đấu, những gương mặt, những cái tên, giây phút họ hy sinh, những dấu vết còn sót lại để tìm. Những mảng ký ức ấy cứ chập chờn trong tôi. Nhiều lúc tỉnh thì không nhớ được, nhưng đến đêm ký ức lại ùa về trong mơ, tôi bật dậy và ghi ngay lại để rồi đi tìm. Có đêm nằm mơ, tôi thấy mình và đồng đội đang hành quân từ Vùng mỏ vào miền Nam. Cả đơn vị cùng tấn công vào mục tiêu, căn cứ của Mỹ - ngụy, toà Thị chính, dinh Tỉnh trưởng Kon Tum, Ty cảnh sát, sân bay, căn cứ 4041, biệt khu 24, căn cứ “Lôi Hổ”, Đắk Tô, Măng Bút (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum)… Lại có lần, tôi thấy đồng đội đang vẫy gọi mình. Vẫn những gương mặt ấy, giọng nói ấy, tha thiết mong chờ ngày được hội ngộ. Anh em còn trách rằng, chiến tranh kết thúc lâu rồi mà chưa thấy đồng đội trở lại chiến trường thăm nom… Giật mình tỉnh dậy mới biết đó là mơ...

- Nghe nói ông và những người bạn đi tìm hài cốt liệt sĩ chủ yếu là của các cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn Than đã hy sinh ở chiến trường miền Nam, con số tìm được có nhiều không, thưa ông?

+ Theo chỗ tôi được biết, ở chiến trường Tây Nguyên có khoảng 1.200 liệt sĩ Quảng Ninh nhưng mới đưa được hơn một nửa vào an táng tại các nghĩa trang liệt sĩ. Trong những năm gần đây, cùng với một số anh em cựu chiến binh thuộc Binh đoàn Than, chúng tôi đã tìm kiếm ở các trận địa và đưa được 120 anh em về quê hương Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông và một số anh em khác có quê quán ở các tỉnh lân cận. Từ năm 1993 đến 2002 đi tìm hài cốt đồng đội hy sinh trên mặt trận Tây Nguyên, anh em chúng tôi đã tìm hết khả năng của mình nhưng hiện vẫn còn nhiều người nằm lại trên tuyến đường Trường Sơn, biên giới, nước bạn. Đa phần những đồng đội chúng tôi tìm đều thuộc Binh đoàn Than...

- Thưa ông, ông có thể kể về những kỷ niệm với Binh đoàn Than ngày ấy của mình?

+ Binh đoàn Than được thành lập năm 1967. Mang theo hào khí của “Binh đoàn Than ra trận”, tạm gác lại tay búa, ngày 19 tháng 1 năm 1968, chúng tôi cầm súng lên đường vào Nam chiến đấu. Hồi đó, lính của binh đoàn trẻ lắm, đều trong độ tuổi đôi mươi, nhiều người còn chưa biết yêu, chưa một lần được nắm tay con gái. Thế nhưng, chiến đấu thì ác liệt lắm, anh dũng lắm. Được biết, con em Vùng mỏ lên đường nhập ngũ chi viện cho chiến trường Đông Nam bộ, Bà Rịa, Rạch Giá, Tây Ninh. Chúng tôi nằm trong mũi 6.000 quân chi viện cho chiến trường Tây Nguyên, trong đó đột phá đi đầu tiên vào Tây Nguyên, mặt trận Kon Tum là tiểu đoàn 9, trung đoàn 127, bộ Tư lệnh Hải Quân, liên quân khu Đông Bắc và các tiểu đoàn tiếp theo bổ sung cho các đơn vị lực lượng vũ trang Tây Nguyên. Tôi luôn tự hào vì những người con của Vùng than đã làm nên những chiến công vang dội trong 8 năm xây dựng và chiến đấu, điển hình là một số trận đánh chiến dịch Xuân Hè 1972 và ngày Đại thắng mùa xuân năm 1975. Tôi còn nhớ những trận đánh mà bộ đội toàn là công nhân mỏ, như: Trận biệt khu 24, trận đánh tiểu đoàn biệt kích, Lôi Hổ, đánh sập cầu Đắk Bla hai lần và nhiều trận trong thị xã Kon Tum, tiêu diệt nhiều phương tiện chiến tranh của Mỹ...

- Chiến tranh đã lùi xa, dấu vết của những trận đánh mà ông vừa kể nay đã bị mai một. Vậy ông và các đồng đội đã vượt qua khó khăn ấy như thế nào trong những lần đi tìm hài cốt đồng đội?

+ Đúng là đi tìm mộ liệt sĩ thời hậu chiến cũng gặp không ít khó khăn. Đầu tiên phải nói đến là Binh đoàn Than năm xưa cũng mỗi người một quê, mới ra Quảng Ninh lập nghiệp nên cũng khó xác định. Ban liên lạc Binh đoàn Than đã có lần đi vào Tây Nguyên suốt 3 tháng 10 ngày để tìm, nhưng rất tiếc các phần mộ đã bị người dân di dời... Không nản lòng trước khó khăn, những cựu binh chúng tôi vẫn đi về chiến trường từ Bình Định vào đến Tây Nguyên tìm mộ đồng đội liên tục từ năm 1995 đến nay. Có đợt đi tìm ròng rã mấy tháng trời, đường sá đi lại khó khăn, anh em trong đoàn phải tự khắc phục thiếu thốn thức ăn, nước uống. Trời không phụ công người, từ năm 1995 đến 2007, hơn 30 liệt sĩ Quảng Ninh được đưa về mai táng ở nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu (riêng năm 2007 đưa được 7 anh em về, đây là lần tìm được số lượng đông nhất). Nhìn thấy đồng đội của mình giờ chỉ còn chút xương trắng, có người chỉ còn là nắm đất đen, các thành viên trong đoàn không ai kìm được nước mắt…

- Trong việc đi tìm đồng đội của mình, điều gì làm ông trăn trở nhất?

+ Những năm gần đây, chúng tôi trở lại chiến trường và thấy nhiều phần mộ liệt sĩ đã được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ, nhưng cũng còn nhiều người vẫn đang nằm rải rác trên tuyến đường Trường Sơn mà chưa tìm được. Tôi nghĩ, tôi với anh em, đã một thời cùng vào sinh ra tử, mình được sống trở về thì phải trả cái nợ cho những người đã hy sinh. Bao giờ tìm xong, đưa các anh em về quê yên nghỉ chúng tôi mới yên tâm. Chỉ tiếc rằng, giờ đây tuổi tôi đã cao, sức tôi đã yếu...

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Phạm Học

Cùng chuyên mục