Làm giàu trên đồng đất của mình là khát vọng bao đời của người nông dân; nhưng không phải nơi nào, lúc nào và ai cũng làm được.
Hiện trên địa bàn huyện Hoành Bồ có nhiều hộ nông dân đã biết chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mới đây có dịp đến địa phương, chúng tôi đã được mục sở thị những mô hình làm giàu ấy.
Anh Bàn Sinh Tề đang chăm sóc đàn lợn mường.
Khi biết mục đích của chúng tôi tìm hiểu về những mô hình làm giàu, một đồng chí cán bộ xã Tân Dân khoe “Nếu nói về phát triển kinh tế trang trại, gia trại, thì xã hiện là một trong những địa phương đi đầu của huyện với nhiều mô hình cho giá trị kinh tế cao. Về chăn nuôi thì có nhím, lợn rừng, lợn mường; về trồng cây thì có dó bầu, lim, vài năm gần đây, nhiều hộ còn trồng cây sưa”.
Vài năm trước, Tân Dân còn là một trong những xã nghèo của huyện. Xã có 95% số dân là đồng bào dân tộc Dao. Do đặc thù khí hậu, đất đai, nên từ bao đời nay nhân dân nơi đây sinh sống chủ yếu dựa vào rừng, nhưng cũng chỉ nặng về khai thác tự nhiên, tự cung tự cấp rất ít hộ có tư duy sản xuất hàng hoá. Mọi sự bắt đầu thay đổi khi huyện thực hiện chủ trương phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, nhất là đối với các xã vùng cao còn khó khăn. Từ sự quan tâm của cấp trên, cấp uỷ, chính quyền xã đã có nhiều giải pháp, tập trung đầu tư phát triển các mô hình kinh tế trang trại và bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực. Ðến nay, Tân Dân là xã có nhiều hộ gia đình đầu tư phát triển nghề nuôi nhím, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đời sống của các hộ dân được cải thiện, có nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo bền vững. “Trên địa bàn có tới hàng chục mô hình trang trại tổng hợp, nhưng chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn các hộ “tiên phong tuyên chiến với đói nghèo” vươn lên làm giàu...”. Trên đường dẫn chúng tôi xuống thăm gia đình ông Lý Tài Thông ở thôn Bằng Anh, đồng chí cán bộ xã cho biết thêm: “Nếu nói về nuôi nhím thì ở xã hộ bác Thông là một trong những hộ tiên phong đấy”. Bác Thông dáng người vạm vỡ, thấy cán bộ xã dẫn khách đến nhà, phấn khởi nói: “Năm nay giá bán được lắm, cứ đà này, cuối năm nay gia đình mình sẽ thu được hàng trăm triệu đồng tiền lãi”. Bác Thông kể “căn duyên” đưa bác đến với nghề nuôi nhím hiện nay. Cả cuộc đời gắn bó với rừng, chưa một cánh rừng nào của huyện là bác không đặt chân tới để kiếm kế sinh nhai, nhưng cuộc sống của gia đình vẫn nghèo khó. Đến lúc lưng đã còng, chân đã mỏi, không còn sức lăn lộn với núi rừng nữa thì tình cờ bác đọc được tài liệu về kỹ thuật nuôi nhím. So sánh với điều kiện khí hậu, đất đai ở địa phương, bác thấy khá phù hợp, thế là bàn với gia đình nuôi thử nghiệm. Ban đầu cũng thấy lo, bởi vốn đầu tư không phải là nhỏ, nếu rủi ro thì... Đang loay hoay chưa biết tiến hành như thế nào, thì đầu năm 2003, được dự án FAO tài trợ 50% vốn, bác Thông đã mạnh dạn vận động 6 hộ gia đình trong xã tham gia đầu tư kinh phí, cùng cán bộ của dự án FAO lên Sơn La mua nhím giống về nuôi sinh sản. Ban đầu, do chưa có kinh nghiệm xây chuồng trại, nên bác để xổng mất một con nhím đực. Không nản chí, bác Thông đã đi mượn nhím đực về phối giống thành công. Năm 2007, gia đình bác Thông đã có nhím giống bán ra thị trường, thu gần 70 triệu đồng. Thành công đã tiếp thêm động lực để bác tiếp tục đầu tư, mở rộng chuồng trại nuôi nhím sinh sản. Năm 2008, gia đình bác thu được hơn 100 triệu đồng, năm 2009 được 170 triệu đồng từ bán nhím giống. Bác Thông cho biết, gia đình bác nuôi trên 50 con nhím, trong đó có gần 20 con nhím cái thường xuyên sinh sản, nhưng vẫn không đủ để bán. Hiện không chỉ trên địa bàn tỉnh, mà rất nhiều người ở các tỉnh khác cũng tìm đến để đặt mua nhím giống của gia đình. Hiện nay giá bán một đôi nhím giống từ 28 đến 30 triệu đồng. Bác bảo: “Tôi cũng muốn qua báo chí, giới thiệu những kinh nghiệm của mình cho những ai có nhu cầu, cũng như bản thân mong muốn được học hỏi thêm...”. Bác “bật mí”: Chuồng nuôi nhím nên làm nửa sáng nửa tối, không cần ánh sáng trực tiếp, tránh mưa tạt và nắng nóng, bảo đảm khô sạch, thoáng mát. Nền và sân chuồng làm bằng bê tông dày 8-10cm, có độ nghiêng để thoát nước và để nhím không đào hang chui ra. Trong chuồng nên để một vài khúc gỗ, sắt hoặc đá liếm để nhím mài răng và không cắn phá chuồng. Thức ăn của nhím rất đa dạng: Rễ cây, mầm cây, rau, củ, quả... Bình thường nhím ăn 2kg thức ăn/con/ngày. Khi nhím đẻ cần bổ sung thêm thức ăn tinh nhiều chất đạm, chất béo, chất bột, đường... Nhím ít bị dịch bệnh, bệnh có thể gặp là ký sinh trùng ngoài da, do ve, mò cắn, gây nên ghẻ lở, dùng thuốc bôi hoặc nhím tự liếm cũng khỏi. Để phòng bệnh này, nên vệ sinh sát trùng chuồng và xung quanh chuồng mỗi tháng 1-2 lần. Hay bệnh tiêu chảy, do khẩu phần thức ăn cung cấp không đầy đủ, hoặc ăn thức ăn bẩn, thiu, mốc; có thể dùng thuốc trị tiêu chảy hoặc bổ sung thêm thức ăn đắng, chát như ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa...
Bà Đào Thị Nhung, tổ 5, khu 8, thị trấn Trới làm giàu từ nuôi cá sấu.
Chia tay bác Lý Tài Thông, chúng tôi tiếp tục đến thăm mô hình nuôi lợn rừng và lợn mường ở thôn Tân Lập của gia đình các anh Triệu Đức Liên, Bí thư Đảng uỷ xã Tân Dân, Bàn Sinh Tề cán bộ văn phòng UBND xã. Các anh cũng là những người dám nghĩ, dám làm và đã làm giàu từ việc nuôi nhím, trồng rừng những năm qua, với doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Thời gian gần đây các anh tiếp tục nuôi thử nghiệm thành công lợn rừng, lợn mường, đã và đang cho thu nhập thêm hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Chúng tôi đến trang trại của các anh khi mặt trời đã đứng bóng. Chỉ tay vào đàn lợn đang nằm ngửa bụng phơi nắng, anh Liên bảo “Nuôi cái anh lợn rừng này khá đơn giản, chỉ mỗi điều là mõm nó rất khoẻ, nếu chuồng trại làm không chắc là chúng húc đổ ngay...”. Là một cán bộ từng có nhiều năm công tác ở xã, anh Liên rất trăn trở khi thấy quê mình điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, nhưng bà con cuộc sống vẫn khó khăn, mà nguyên nhân lớn nhất là do người dân chưa tìm được mô hình thích hợp. Anh tâm sự: “Mình là cán bộ, đảng viên phải tìm ra cho được hướng đi, mô hình thích hợp. Sau khi thử nghiệm thành công thì nhân rộng ra cho bà con làm theo”. Anh kể, một thời gian nghiên cứu mô hình nuôi lợn rừng ở Hoà Bình, Yên Bái... các anh nhận thấy nuôi lợn rừng không khó, chuồng trại rất đơn giản, nhưng cần phải có diện tích rộng, bởi lợn rừng vốn thích hợp với môi trường hoang dã; nếu thành công thì đây không chỉ là hướng thoát nghèo, mà còn làm giàu hiệu quả. Tháng 6-2008, 2 anh được huyện hỗ trợ 70 triệu đồng để mua 8 con lợn rừng (6 con cái) ở Bắc Giang về nuôi; và đầu tư trên 100 triệu đồng để làm chuồng trại. Nhờ sự giúp đỡ tích cực của cán bộ chuyên môn, đàn lợn rừng phát triển khá ổn định, các con lợn cái đẻ được 6 con. Anh Liên cho biết, giá lợn thịt hiện gần 300 nghìn đồng/kg, lợn giống từ 400 đến 500 nghìn đồng/kg. Lợn rừng rất mắn đẻ, mỗi năm từ 1 đến 2 lứa, mỗi lứa từ 5 đến 7 con, lợn 15 đến 20kg/con có thể xuất chuồng. Trong quá trình nghiên cứu nuôi lợn rừng, các anh còn nhận thấy, nuôi lợn mường còn lãi hơn nhiều, vì chuồng trại đơn giản hơn, thế là tiếp tục đầu tư mô hình này. Đến nay, đàn lợn mường của các anh đã cho sinh sản... Nhiều hộ trong xã, trong huyện đã đến học tập và ứng dụng mô hình chăn nuôi trang trại của các anh, cũng bắt đầu cho thu nhập ổn định...
Còn nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả trên địa bàn huyện Hoành Bồ, mà chúng tôi tìm hiểu được, như trồng hoa ly, trồng cây thanh long, nuôi cá sấu... Đồng chí Bùi Thanh Hải, Chủ tịch Hội Nông dân huyện cho biết: Hiện trên địa bàn huyện có trên 900 trang trại, gia trại; trong đó có gần 100 trang trại có vốn đầu tư từ 100 triệu đồng trở lên, trên 30 trang trại có thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên/năm. Huyện đã xây dựng được 52 cánh đồng thu nhập 50 triệu đồng/ha trở lên; phấn đấu đạt từ 70 đến 100 triệu đồng vào năm 2015... Với các mô hình trên, nếu được tạo điều kiện tốt, nhân rộng thì hoàn toàn có cơ sở để đạt mục tiêu này.