Sinh ra trong thời bình nên thế hệ trẻ chúng tôi chỉ biết về chiến tranh qua những trang sách lịch sử học trong nhà trường. Chúng tôi khâm phục và tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của lớp lớp cha anh nhưng không thể nhận thấy hết sự tàn khốc của chiến tranh; những gian nan, vất vả, những hy sinh mất mát của cả dân tộc. Vì thế khi được tham gia cùng Đoàn Hội Nhà báo tỉnh về Quảng Nam thăm, chúc thọ Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Bưởi do Hội nhận phụng dưỡng, tôi thấy mình là người thực sự may mắn…
Lần đầu tiên về với dải đất miền Trung - “vùng đất lửa” một thời, nơi rất nhiều địa danh đã trở thành huyền thoại, đi vào lịch sử như là biểu tượng của lòng dũng cảm, ý chí bất khuất trước kẻ thù của dân tộc Việt Nam… có lẽ rất nhiều đồng nghiệp trẻ cũng chung tâm trạng giống tôi: Háo hức, bồi hồi, rạo rực…
Đoàn cán bộ, hội viên Hội Nhà báo tỉnh thăm bảo tàng trưng bày các kỷ vật của những người lính tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị.
Đi qua những địa danh lịch sử
Đoàn chúng tôi có 17 người của 6 chi hội trực thuộc Hội Nhà báo tỉnh do đồng chí Trần Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh, Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh làm trưởng đoàn. Theo nhà báo Nguyễn Việt Thành, Thường trực Hội Nhà báo tỉnh, đây là lần thứ 6 Hội Nhà báo tỉnh tổ chức đoàn vào thăm Mẹ. “Nhưng đã có những anh em vào thăm Mẹ tới cả chục lần rồi. Lần này, ngoài việc vào thăm, Hội còn tổ chức mừng thọ Mẹ tròn 90 tuổi. So với lần trước gặp, chắc lần này Mẹ già và yếu đi nhiều” - đồng chí Nguyễn Việt Thành nói. Khởi hành từ TP Hạ Long từ lúc sáng sớm, chúng tôi lần lượt đi qua Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị... Qua mỗi địa danh, các bác, các chú trong Đoàn lại chỉ cho chúng tôi thấy những chứng tích lịch sử gắn với những chiến công hào hùng của dân tộc.
Những người đồng nghiệp của chúng tôi ở Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Trị bảo rằng: “Quảng Trị là vùng đất mà ở đó, mỗi tấc đất, viên gạch… đều là chứng tích của một thời máu và lửa. Đến Quảng Trị không thể không đến nghĩa trang Trường Sơn, Đường Chín và Thành cổ”. Bạn khuyên là vậy, nhưng do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ thêm được trong lịch trình là đến Thành Cổ. Nằm ở ngay Trung tâm TX Quảng Trị nhưng Thành cổ không ồn ào. Trái lại, có gì đó thật tĩnh mịch, mát mẻ và thanh tịnh của mảnh “Đất thiêng”. Đặt chân vào Thành cổ, tôi mang một tâm trạng thật khó tả và có cảm giác như luồng gió lạnh chạy dọc sống lưng. Không phải vì tôi sợ mà vì xúc động khi nghe cô hướng dẫn viên kể về những dấu tích của nơi này. Với diện tích chưa đầy 3km2, đế quốc Mỹ đã dội xuống Thành cổ 328 nghìn tấn bom, được so sánh ngang sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Vì thế mà hàng nghìn chiến sĩ của ta đã nằm xuống không còn nguyên vẹn hình hài. Thành cổ Quảng Trị đã trở thành một nghĩa trang như Nghĩa trang Trường Sơn hay Đường Chín, chỉ khác đây là nghĩa trang không có nấm mồ, không có những tấm bia ghi danh tên tuổi các liệt sĩ.
Trong Đoàn của chúng tôi không chỉ có những người thuộc thế hệ trẻ như tôi mà còn có cả những nhà báo có thâm niên trong nghề và đã từng khoác trên mình chiếc áo lính tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam thời chống Mỹ. Bước chân vào nhà bảo tàng Thành cổ, nhà báo Trần Mạnh Hùng cứ bần thần trước những bức ảnh chụp các chiến sĩ đang chiến đấu trong khói bom, lửa đạn. Hình như khi nhắc đến những địa danh, những phiên hiệu của các đơn vị bộ đội đã chiến đấu ở đây năm nào, cô hướng dẫn viên đã làm rung lên trong ông những hồi ức về quá khứ! Ông đưa tay chỉ cho chúng tôi tên đại đội ông từng tham gia chiến đấu khắc trên bức tường của nhà bảo tàng. Và tôi chợt hiểu vì sao mắt ông lại hoe đỏ.
Thắp nén nhang trên Đài tưởng niệm, chúng tôi nguyện cầu cho linh hồn những người lính nằm lại “mãi tuổi hai mươi” trên mảnh đất này được siêu thoát, trở thành bất tử để chứng kiến sự hồi sinh của mảnh đất này, mảnh đất họ đã phải đổi bằng máu để giữ gìn cho thế hệ mai sau.
Thương lắm miền Trung
Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Bưởi trò chuyện với cán bộ, hội viên Hội Nhà báo Quảng Ninh.
Từ TP Đà Nẵng chúng tôi đi thêm chừng 50km nữa qua thị trấn ái Nghĩa (Quảng Nam), rồi men theo con đường nhỏ bám dọc con suối thêm khoảng 20km nữa mới vào được đến nhà Mẹ ở thôn Đại Mỹ, xã Đại Hưng, huyện Đại Lộc. Nghe bạn bè vẫn trêu nhau, đặc sản miền Trung chỉ có nắng, gió Lào và cát trắng. Đi đúng vào đợt nắng nóng đầu mùa tôi đã thực sự cảm nhận được “đặc sản” ấy. Nắng nóng miền Trung không giống miền Bắc, vừa gay gắt, vừa bỏng rát, cảm giác như cháy da, cháy thịt. Đất đai ở đây rộng nhưng cằn cỗi. Có những vùng mênh mông cát trắng mà lưa thưa mấy hàng cây phi lao. Suốt dọc đường vào nhà Mẹ, chúng tôi chẳng gặp bóng cây to nào, giữa đất trời nắng nóng chỉ trơ trọi những nóc nhà nhỏ xíu, lụp sụp. Vừa bước chân xuống xe, vào cổng nhà Mẹ, chúng tôi đã gặp cơ man là cát. Cát phủ trắng vườn, chen lấn không cho cây cối mọc. Cát tràn cả lối đi, chui tuột vào nằm gọn trong đáy những đôi giầy tây. Nhà báo Minh Trụ - Đài Truyền Thanh - Truyền hình Cẩm Phả, người đã có nhiều lần được về thăm mẹ ngậm ngùi, xót xa nói: “Bữa trước về, vườn mẹ còn rợp cây ăn quả. Sau trận bão năm ngoái, giờ trơ trụi chẳng còn gì thế này”. Xã Đại Hưng quê Mẹ nằm ở ven sông Vu Gia. Trận lũ kinh hoàng hồi tháng 10 năm 2009 xã là vùng “rốn lũ” nên nhà cửa, hoa màu của nhiều hộ dân đều bị nước cuốn phăng. Ngôi nhà của Mẹ bị tốc mái, cây cối, hoa màu cũng bị cuốn trôi, đất đai phủ một lớp cát dày đến giờ vẫn chưa thể phục hồi sản xuất. Rất may, chính quyền địa phương cùng với Hội Nhà báo tỉnh đã kịp thời hỗ trợ gia đình Mẹ sửa chữa và gia cố lại ngôi nhà nên khi chúng tôi đến được nhìn thấy nhà của Mẹ to, đẹp và chắc chắn nhất xóm ấy. Bà con ở xã Đại Hưng bảo, người dân xã Đại Hưng đã quá quen với cái nắng nóng dữ dội cũng như những cơn bão lũ kinh hoàng của trời đất. Vì thế không sợ khó, không sợ khổ. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại Hưng cũng là vùng đất đóng góp nhiều nguồn lực con người cho cách mạng. Xã đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Cả xã còn có 2 cá nhân được phong tặng danh hiệu này; 15 người được phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng. Đến nay chỉ còn duy nhất Mẹ Trần Thị Bưởi còn sống.
Mẹ đón chúng tôi trong bộ quần áo màu vàng nhạt may kiểu bà ba. Mái tóc bạc trắng cắt ngắn, nước da đồi mồi nhuộm nắng, gió miền Trung bao bọc lấy khuôn mặt xương xương và vóc dáng cao to, trông Mẹ nhanh nhẹn và khoẻ mạnh hơn so với tuổi. Dẫu chưa một lần gặp Mẹ mà tôi đã có cảm giác thân quen như ruột thịt. Nụ cười, ánh mắt, cái cầm tay nhẹ nhè của Mẹ cho tôi cảm giác như được trở về chính ngôi nhà mình. Mẹ Trần Thị Bưởi sinh năm 1920. Năm 22 tuổi, Mẹ theo Việt Minh tham gia kháng chiến. Mẹ kể: “Hồi ấy dân mình chưa có nhiều người tin và đi theo cách mạng đâu. Nhưng mà tui nói ngay, cách mạng sao thua được, cách mạng chắc chắn sẽ thắng lợi”. Mẹ bảo, Mẹ có được niềm tin ấy là vì “thấy những điều Cụ Hồ nói đúng lắm”. Mẹ có 5 anh, chị em thì cả 5 người đều tham gia kháng chiến. Thời gian tham gia cách mạng, Mẹ thường xuyên đi vận động quyên góp gạo gửi cho bộ đội kháng chiến; nuôi giấu cán bộ Việt Minh. Ông Hồ Quang Bốn, Trưởng thôn Đại Mỹ, xã Đại Hưng (được tách từ xã Đại Lãnh) kể cho chúng tôi nghe Mẹ là một chiến sĩ kiên cường từng bị địch bắt. Chúng đánh đập, tra tấn rất dã man thậm chí, bỏ đói nhưng mẹ vẫn kiên quyết không đầu hàng. Mẹ bị địch kết án 20 năm rồi đày ra Phú Quốc. Mẹ đã động viên đồng chí, đồng đội giữ vững khí tiết và dũng cảm đấu tranh chống chế độ đàn áp dã man của địch. “Hồi đó tui mạnh lắm, khoẻ như vận động viên đội bóng chầy (cười). Mấy thắng lính bắt tui, tui còn đánh lại kìa” - Mẹ vui vẻ góp chuyện với chúng tôi. Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Mẹ thoát lao tù trở về quê hương tiếp tục công tác. Có điều, 3 trong số 5 người con của Mẹ tham gia lực lượng vũ trang cách mạng đều đã hy sinh. Hiện vẫn còn 2 người con chưa tìm thấy hài cốt. Trò chuyện với những người láng giềng, chúng tôi còn được nghe thêm nhiều điều khác nữa về Mẹ. Khi miền Nam vừa giải phóng, Mẹ đã tình nguyện hiến đất, quyên góp nồi niêu cho Chính phủ để giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh mất đất, mất nhà do chiến tranh. Anh Phạm Tấn Cảnh, cán bộ văn hoá xã Đại Hưng nói: “Bả là người rất thẳng tính, cán bộ xã làm sai điều gì là góp ý, phê bình luôn không có kiêng nể gì hết”. Nghe vậy, chúng tôi càng thêm cảm phục bản lĩnh vững vàng, sức chịu đựng phi thường và lòng nhân ái bao dung của Mẹ.
Năm 1993, thay mặt đội ngũ những người làm báo của tỉnh, nhà báo, nhà thơ Ngô Tiến Cảnh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo tỉnh đã viết lá thư đầu tiên vào nhận Mẹ. Thấm thoắt mới đó mà đã 17 năm. Trong quãng thời gian đó, hầu như năm nào cũng có hội viên của Hội ghé thăm Mẹ. Lần thì đi theo Đoàn do Hội tổ chức, nhưng cũng có lần trên đường đi công tác ghé vào thăm. Chỉ cần nhìn thấy Mẹ, biết Mẹ vui, Mẹ khoẻ là an lòng. Bấy nhiêu cũng đủ cho thấy tấm chân tình và lòng hiếu thuận của những người con làm báo nơi đất Mỏ dành cho Mẹ. Trong hành trang chuyến đi lần này của chúng tôi về thăm Mẹ, ngoài những tình cảm chân thành, những lời nhắn nhủ của người đi, người ở; những món quà vật chất nhỏ bé mà Hội và các Chi Hội chuẩn bị chúng tôi còn mang theo một món quà khá đặc biệt. Đó là bức tranh họa bốn câu thơ của nhà báo, nhà thơ Ngô Tiến Cảnh gửi kính tặng Mẹ. “Dâng người lời của núi sông / Mẹ - nguồn cội giống tiên rồng Việt Nam / Anh hùng - Trung hậu - Đảm đang / Hùng ca đất nước mãi vang tên Người”. Là thế hệ hậu sinh nhưng tôi biết ông là người giàu tình cảm, ông đã từng có 18 năm làm lính. Bài thơ này không chỉ là tình cảm của riêng ông mà ông còn thay lời cho hàng trăm hội viên Hội Nhà báo tỉnh gửi tình cảm cho Mẹ.