Binh đoàn Than ngày ấy

Với người dân Quảng Ninh, cái tên Binh đoàn Than nghe thật gần gũi và thân thương, bởi đó là những người con thân yêu của Vùng mỏ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, đã gác tay búa, tay choòng lên đường “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Nhiều người trong số họ đã ngã xuống trên chiến trường... Để hôm nay, dù chiến tranh đã lùi xa, non sông đã thu về một mối, nhưng những ký ức về họ vẫn không phai mờ trong lòng người dân đất mỏ...

Tất cả vì miền Nam ruột thịt

Còn nhớ, vào năm 1967, trước sự leo thang bắn phá ác liệt miền Bắc của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, cùng với thanh niên cả nước, những người thợ trẻ trong ngành Than đã hăng hái làm đơn lên đường nhập ngũ. Nhiều người trong số họ còn viết cả huyết tâm thư để tỏ rõ khí phách của những người con Vùng mỏ. Sau tuyển chọn, 1.100 công nhân Vùng than Hòn Gai - Cẩm Phả đã được tập hợp thành một lực lượng, gọi là Binh đoàn Than, lên đường chi viện cho tiền tuyến. Với khí thế khẩn trương, sau 12 ngày đêm, Binh đoàn đã hành quân đến địa điểm huấn luyện tại huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Sau một thời gian huấn luyện cơ bản, ngày 15-12-1967, trong lễ tuyên thệ xuất quân vào chiến trường, Binh đoàn đã được các đồng chí lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, lãnh đạo ngành Than, cùng nhiều ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, đến tiễn đưa, động viên và giao nhiệm vụ. Xúc động trước tình cảm, sự kỳ vọng của chính quyền và nhân dân Quảng Ninh, CBCS của Binh đoàn đã nguyện thề “Với truyền thống của công nhân mỏ, dù có phải hy sinh, vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, đánh xong giặc Mỹ lại về Vùng than...”.

Ông Thinh cùng vợ bồi hồi nhớ lại “chuyện ngày xưa”...
Ông Thinh cùng vợ bồi hồi nhớ lại “chuyện ngày xưa”...

Đúng 14 giờ 15 phút ngày 16-12-1967, Binh đoàn Than mang phiên hiệu 921, lên đường vào Nam chiến đấu. Sau 45 ngày đêm hành quân gian nan vất vả, Binh đoàn đã tập kết đúng nơi quy định ở chiến trường B5, kịp tham gia vào chiến dịch Tết Mậu Thân - 1968. Cũng xin nói thêm, việc Binh đoàn Than được thành lập vào thời điểm đó đã trở thành một sự kiện. Theo một số CBCS trong Binh đoàn cho hay, khi vừa vào đến Khe Sanh (Quảng Trị) thì Đài BBC đã đưa tin và bình luận rằng Việt Cộng đã tung “Đội quân đặc nhiệm” vốn là những người thợ mỏ vào chi viện cho miền Nam. Tết Mậu Thân năm ấy quả là một cái tết đáng nhớ với CBCS trong Binh đoàn, bởi với đa số anh em, đây là lần đầu tiên họ phải xa những xóm thợ quen thuộc, xa người thân. Song những nỗi nhớ, niềm thương đó đã được bù đắp bằng những vần thơ, những lá thư từ hậu phương Vùng mỏ gửi đến. Nó làm tăng thêm sức mạnh cho họ để những người lính thợ tham gia trận đánh đầu tiên tại các cứ điểm Tông Chay, Tà Cơn, Làng Vây... Trong chiến dịch Mậu Thân, Binh đoàn Than đã đánh chiếm điểm cao 689, 845, 833 và cắt đường số 9, tạo điều kiện cho các đơn vị khác tiến lên làm chủ nhiều vị trí chiến lược quan trọng. Qua trận đầu thử lửa đó, những chiến sĩ của Binh đoàn đã góp thêm một kỳ tích trong lịch sử công nhân Vùng mỏ; nhiều chiến sĩ đã lập được chiến công hiển hách. Tiêu biểu là Phạm Xuân Hùng (công nhân Xí nghiệp Tuyển than Hòn Gai) cùng 2 đồng đội khác đã bắn cháy 2 xe tăng, 1 xe cơ giới của giặc, nhiều đồng chí đã dũng cảm hy sinh khi cùng đồng đội xông lên chiếm các điểm cao...  

Sau chiến dịch Mậu Thân, 3 tiếng “Binh đoàn Than” đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Vùng mỏ. Sau khi biên chế lại, những người lính của Binh đoàn đã thực sự trở thành nòng cốt trong các đơn vị chiến đấu trên khắp các chiến trường miền Nam; họ tham gia nhiều trận đánh lớn ở Tây Nguyên, Đắc Uy, Tân Cảnh... Trận đánh vào tận sào huyệt Quân cảng kho xăng Nhà Bè do Nguyễn Đức Bình (công nhân Mỏ Đèo Nai) cùng đồng đội tiến hành đã tiêu huỷ hàng vạn lít xăng dầu của địch, hay như trận đánh cứ điểm cầu Mương Chuối (tỉnh Long An) do đồng chí Lê Xuân Ba chỉ huy, rồi trận đánh trên sông Rạch Dừa, do trung đội trưởng Lại Ngọc Nhiếp (công nhân Mỏ Thống Nhất) v.v.. Tất cả đã khiến cho cái tên Binh đoàn Than ngày càng lừng danh. Đặc biệt, trong trận quyết đấu cuối cùng tại trung tâm đầu não của Ngụy quyền Sài Gòn, nhiều CBCS của Binh đoàn đã tham gia đoàn quân đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu Ngụy, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Kết thúc chiến tranh, theo thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 300 người lính thợ ra đi năm ấy đã không bao giờ còn trở về nữa và gần 400 người khác đã trở thành thương binh...

Ông Đích kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm về Binh đoàn Than.
Ông Đích kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm về Binh đoàn Than.

Và chuyện kể của những người lính già

Chiến tranh kết thúc, đa số những người lính của Binh đoàn Than đã trở về Đất mỏ như lời thề ngày xuất quân. Chúng tôi tìm đến thăm gia đình ông Bùi Duy Thinh (cư trú tại tổ 79, khu 9, phường Cao Thắng, TP Hạ Long), một trong những người lính của Binh đoàn năm xưa. Nhớ lại những năm tháng trong quân ngũ, ông Thinh thực sự rất xúc động. Ông kể, năm 1967, ông 24 tuổi, đang là thợ lái máy xúc của Mỏ Hà Tu. Khi có lệnh động viên vào Nam đánh giặc, cùng với nhiều thợ trẻ khác, ông xung phong lên đường nhập ngũ. Trận đánh đầu tiên ông tham gia là đợt đánh chiếm điểm cao 833 ở tây bắc Tà Cơn. Trận đánh này ông đã cùng đồng đội loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên địch. Và kể từ đó đến ngày giải phóng miền Nam, ông đã tham gia hàng chục trận đánh lớn nhỏ ở hầu khắp các chiến trường. Nhưng trận đánh cuối cùng, trận tấn công vào Bộ Tổng tham mưu ngụy ở Sài Gòn với ông có lẽ là trận “đẹp nhất”! Ông kể: “6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, đơn vị chúng tôi đã có mặt ở ngã tư Bảy Hiền, Sài Gòn. Sau khi đánh chiếm Trường Sĩ quan ngụy, chúng tôi được cô Vân, chiến sĩ biệt động Sài Gòn, dẫn đường (cô Vân chính là “nguyên mẫu” của nhân vật chính trong bộ phim Cô Nhíp - TG)  đánh chiếm trụ sở của Bộ Tổng Tham mưu ngụy. Và đến trưa, tôi nhìn đồng hồ, đúng 11 giờ 15 phút, chúng tôi đã làm chủ mặt trận này...”. Kể đến đây, giọng ông Thinh chùng xuống, như đang thì thầm với ai đó: “Điều đáng tiếc là trong số 50 người của Binh đoàn Than tăng cường cho Trung đoàn 28 đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy, đến phút cuối cùng, chỉ còn duy nhất mình tôi, tuy trên người cũng không ít vết thương, nhưng còn may mắn thấy được ngày toàn thắng”. Mắt ông đỏ hoe khi nhắc đến những lần phải chứng kiến cảnh đồng đội hy sinh... Trong lúc ông Thinh kể, bà Trịnh Thanh An, vợ ông, ngồi bên cạnh, nét mặt rất chăm chú, chốc lại chen vào một vài câu hỏi; mặc dù, như ông Thinh nói, chuyện “lính chiến” của ông bà nghe đã không biết bao lần rồi! Nhìn họ chuyện trò, thấy ánh mắt, nét mặt tràn ngập hạnh phúc. Đôi mắt mơ màng, ông Thinh hồi tưởng: Ấy là dịp đầu tháng 6 năm 1967, sau khi viết huyết tâm thư xin vào Nam giết giặc, việc đầu tiên mà anh thợ trẻ Bùi Duy Thinh quyết định làm ngay là đạp xe về quê ở Thái Bình cầu hôn bạn gái là Trịnh Thanh An đang là giáo viên ở một trường tiểu học tại TX Thái Bình. Và hai người cưới nhau chưa đầy một tháng thì anh lên đường, chị tạm thời vẫn ở lại quê nhà... Ngày tháng đằng đẵng trôi, chị mong ngóng anh trở về... “-Nhiều đêm tôi nằm mơ thấy anh ấy bị thương máu me be bét. Giật mình tỉnh dậy, mồ hôi toát ra đầm đìa...” - Bà An nói với tôi.

Cứ vậy đợi chờ bặt vô âm tín suốt 10 năm sau thì ông Thinh mới trở về. Sau này, vợ chồng ông có 4 người con, nay đều đã trưởng thành có việc làm, thu nhập ổn định.

Không giống với ông Thinh, ông Chu Văn Đích, thương binh hạng 2/4, hiện đang ở tổ 5, khu 4, phường Hà Lầm (TP Hạ Long) lại có những kỷ niệm khá đặc biệt. Ông kể, trước khi nhập ngũ, ông đang là thợ Nhà máy cơ khí Hòn Gai, khi có thông báo tuyển quân, ông cũng làm đơn nhập ngũ. Sau khi được tuyển vào Binh đoàn, ông được biên chế vào C4, D3, Tiểu đoàn 385. Sau thời gian huấn luyện, cả đơn vị được về quê nghỉ phép. Và mặc dù huấn luyện gian khổ như vậy, nhưng hết phép, 100% quân số đều có mặt tại đơn vị, không ai chậm một ngày. Chỉ huy đơn vị huấn luyện tân binh tỏ ý rất “nể”: “-Đúng là tinh thần kỷ luật và đồng tâm của thợ mỏ Quảng Ninh có khác!”. Vào đến chiến trường, đơn vị ông Đích tham gia ngay trận đánh mở màn của chiến dịch Mậu Thân - 1968. Hết chiến dịch, đơn vị được tăng cường lên Tây Nguyên hoạt động ở khu vực Đắc Tô, Playku, rồi sau này lại xuống vùng Đông Nam bộ. Ở mỗi nơi, máu xương của những người con Quảng Ninh đều thấm đỏ. Có những trận đánh, vừa hô xung phong thì người đồng đội bên cạnh ông trúng đạn ngã xuống. Khi đưa lên cáng thương, anh ấy còn bật khóc, thều thào: “Đen quá, tớ chưa kịp nổ súng thì đã dính rồi”. Nói xong, bạn ông tắt thở.

Càng trải qua nhiều trận đánh, tình đồng chí, đồng đội của những lính thợ Vùng mỏ càng gắn bó hơn. Ông Đích không thể nào quên một trận đánh ở khu vực Đông Nam bộ. Hôm ấy, cả đơn vị hành quân đến ém ở vị trí đã định để ban đêm tấn công. Nhưng không may bị máy bay B52 địch phát hiện; bọn chúng tập trung ném bom chính diện vào đội hình. Cả đơn vị tan tác, thương vong nhiều vô kể. Máu xương của bộ đội rải khắp nơi, phải đến 3 ngày sau đơn vị mới tập hợp lại được đội hình. Và dù quân số giảm, nhưng đơn vị vẫn hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt được mục tiêu đã định. Trên đường rút quân ra, đơn vị của ông lại bị phục kích, bao vây. Địch dùng xe tăng và bộ binh vây kín bốn mặt, khiến cả đơn vị phải nằm án binh bất động. Đến ngày thứ 6 thì lương thực, thực phẩm cạn kiệt. Không còn cách nào khác, mọi người phải nhường nhịn cho nhau từng miếng lương khô, hớp nước, trong đó ưu tiên những người bị thương... Đến tận bây giờ, ông Đích vẫn còn nhớ vị ngon của miếng lương khô mà một đồng đội san sẻ trong ngày cuối cùng trước khi đơn vị mở đường máu để vượt ra ngoài...

Chuyện “tiền tuyến” là vậy, còn chuyện “hậu phương” của ông Đích thì không có được một “kết thúc có hậu” như ông Thinh. Chuyện là khi ông chuẩn bị lên đường, gia đình có ý định cưới cho ông cô hàng xóm cùng tuổi đôi mươi, nhưng ông lại nghĩ, mình ra đi không hẹn ngày về, nếu có mệnh hệ gì thì lại khổ người ta... Vì thế hai người dừng đám cưới và hẹn ước sẽ hợp hôn khi ngày đất nước toàn thắng. Thế nhưng đến năm 1974, khi ông bị thương nặng, một đồng đội ở đơn vị ra Bắc điều trị nhầm tưởng ông đã hy sinh nên đến thông báo với gia đình. Và 2 năm sau, năm 1976, bạn gái ông đã đi lấy chồng. Họ vừa cưới nhau được một thời gian ngắn thì ông Đích trở về. Hai người chỉ biết nhìn nhau, nước mắt ngắn dài...

Còn nhiều những câu chuyện cảm động về những người lính thợ Binh đoàn Than năm xưa mà tôi đã được nghe chính những người trong cuộc kể lại. Những câu chuyện đã viết nên trang sử chói lọi, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của thợ mỏ Quảng Ninh... Chia tay họ, tôi thấy lòng mình ngập tràn cảm xúc, cảm thấy yêu hơn, tự hào hơn về Đất mỏ quê hương...

Quang Minh

Cùng chuyên mục