Cô Tô - quần đảo tiền tiêu Đông Bắc Tổ quốc. Những năm qua, mỗi năm ước có khoảng vài trăm ngàn du khách đến tham quan. Không chỉ du khách mà có lẽ ngay cả người dân Cô Tô cũng chưa hiểu hết lịch sử tên gọi của đảo. Đã từng có những giải thích về nguồn gốc địa danh “Cô Tô” nhưng thông tin thiếu căn cứ thuyết phục.
Từ các bản đồ cổ
Theo các ghi chép trong các sách sử thời nhà Nguyễn ghi lại thì năm 1832, Tổng đốc Hải An (gồm Hải Dương và An Quảng) Nguyễn Công Trứ đã xin triều đình cho thành lập làng Hướng Hóa trên đảo Chàng Sơn- tức Cô Tô ngày nay.
Các tư liệu lịch sử ghi chép trong thế kỷ 19, nhất là nửa sau thế kỷ 19, cho biết vùng biển Cô Tô cũng như Vịnh Bái Tử Long ngày nay, giặc cướp hoành hành rất nhiều. Năm 1839, nhà Nguyễn đã phải cho lập đồn Tĩnh Hải ở đảo Ngọc Vừng để vừa phòng thủ biển đảo bờ cõi, vừa chống giặc cướp.
Mặc dù triều đình có nhiều cố gắng trong đánh dẹp cướp biển nhưng chưa thật mang lại bình yên. Vịnh Bái Tử Long nói chung, quần đảo Vân Hải, Cô Tô nói riêng “nổi tiếng” về nạn cướp biển đến mức được ghi danh trên bản đồ. Cụ thể, trên một bản đồ do người Anh xuất bản năm 1828, quần đảo Cô Tô ngày nay được chú thích là Pirates I. (viết tắt của Pirates Island - đảo của những tên cướp biển). Năm 1838, trên An Nam Đại quốc họa đồ (bản đồ nước An Nam), Cô Tô và cả quần đảo Vân Hải đều được chú thích như vậy. "Danh xưng" này được nhắc lại ở nhiều bản đồ của Pháp những năm sau đó.
Năm 1881, trên một bản đồ do Pháp xuất bản, quần đảo Cô Tô được chú thích Iles des Gow Tow (quần đảo Gow Tow) nhưng chú thêm dòng chữ “oudes pirates” (hoặc đảo của những tên cướp biển). Đây có lẽ là tấm bản đồ sớm nhất xuất hiện tên Gow Tow.
Trên tấm bản đồ tỉnh Quảng Yên năm 1890, quần đảo Cô Tô được chú thích: Iles Go To (quần đảo Go To). Đảo Thanh Lân chú thích là: I. Choun Lan Xan. Góc đảo Choun Lan Xan, đối diện đảo Spha Pac Wan (tức Cô Tô lớn) được chú thích có làng Go-To. Đây là lần đầu tiên từ “To” xuất hiện trên các bản đồ của người Pháp khi chú về quần đảo Cô Tô.
Năm 1902, trên một bản đồ cũng của người Pháp có tên là “Bắc Kỳ và Thượng Lào” do Cơ quan địa lý của các thuộc địa xuất bản, được lập trên cơ sở nghiên cứu của các sĩ quan thuộc quân đội Đông Dương, Cục Thủy văn Hải quân Pháp thì quần đảo Cô Tô cũng được chú thích là Iles des Go To (quần đảo Go To).
Đáng chú ý, trên bản đồ “Châu Á trong 10 trang” do Nhà sách và Công ty Hachette (Pháp) xuất bản năm 1911, đảo Cô Tô khi đó được chú thích là “Ile des Boto ou Go- To” (đảo Boto hoặc là Go-To).
Cô Tô do đọc chệch mà thành?
Như trên đã dẫn chứng, hầu hết các bản đồ thời Pháp đã định danh Cô Tô là "đảo của những tên cướp biển". Bên cạnh đó có sự xê dịch về tên gọi, xoay quanh mấy danh từ sau: Gow Tow, Go To, Boto, Cu Xu.
Đầu thế kỷ 20 cho đến trước năm 1954, trên các bản đồ, ngoài chú thích Cô Tô là tên các địa danh trên (chú thêm đảo của những tên cướp biển), nhiều bản đồ còn chú thêm tên đảo theo cách gọi của người địa phương. Cụ thể, đảo Cô Tô lớn khi đó được chú thích là Sha Pak Wan (Sha Pak nghĩa là cát trắng. Wan nghĩa là vạn chài, nôm na nghĩa là đảo có cát và có dân chài sinh sống); Tching Lan Xan (hay Choun Lan San) tức đảo Thanh Lân ngày nay. Đảo Cô Tô con gọi là A Pho chao. Tching Lan Xan hay Choun Ian San có sự khác nhau do cách gọi của mỗi nhóm dân tộc có ngôn ngữ khác nhau một chút nhưng nghĩa cơ bản như nhau.
Bản đồ tỉnh Hải Ninh năm 1909, chú thích Cô Tô là đảo Cow Tow.
Trong các địa danh được ghi trên bản đồ như Gow Tow, Go To, Boto, Cu Xu (Câu Đầu) thì Gow Tow được dùng phổ biến hơn cả. Gow Tow nếu đọc theo tiếng Pháp thì sẽ là Gô Tô (giống như người Việt đang đọc tiếng Anh “show” = sô. “Những ngày giáp Tết, nghệ sĩ tất bật vào mùa chạy sô đến mức không kịp thở. Vừa có nhiều tiền lại là dịp để nghệ sĩ lấy lòng công chúng”- báo Người Lao động ngày 4/2/2016…).
Gow Tow dần bị gọi chệch là Cô Tô dễ phát âm hơn. Cô Tô được hiểu là ký âm nên chỉ nghe thôi thay vì dịch nghĩa. Cô Tô do vậy không có nghĩa giải thích theo tiếng Việt mà có thể hiểu nó dịch chuyển từ cách phiên âm của người Pháp, cách đọc biến âm của người Việt mà thành tên gọi như ngày nay.
Trên đất nước Việt Nam, nhiều địa danh ngày nay do nhiều nguyên nhân khác nhau từ đọc chệch mà thành. Cụ thể như Sóc Trăng vốn bắt nguồn từ tiếng Khmer là Srok Kh’leang (nghĩa là xứ có kho chứa bạc của hoàng gia); Blao đọc chệch thành Bảo Lộc (một thành phố cũ của tỉnh Lâm Đồng), Làng Cò thành Lăng Cô (Huế), Mỹ Lại thành Mỹ Lai (Quảng Ngãi), đảo Nam Dự thành Nam Du (An Giang), Các Bà thành Cát Bà (Hải Phòng)...
Định danh Cô Tô
Sau năm 1832, khi Nguyễn Công Trứ cho thành lập làng Hướng Hóa, Cô Tô ghi nhận là thời gian định hình lập nên làng xã người Việt nhưng hẳn trước đó đảo đã có người ở.
Sau khi Thực dân Pháp xâm chiếm Quảng Ninh, Cô Tô được quân Pháp quan tâm xây dựng thành một trong các nơi đóng quân quan trọng của hải quân. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, cùng với quân cảng Vạn Hoa, Cô Tô là một hai nơi hải quân Pháp đóng kiên cố, quân ta không đánh đuổi được. Ngày 14/11/1945, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Ký Con tiến công quân Pháp trên đảo Cô Tô nhưng đã bị thiệt hại nặng. Nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh hoặc bị địch bắt sống, tù đày.
Trong cuốn Les Corsaires de la Baie d`Along (Những tên cướp biển ở Vịnh Hạ Long) của tác giả Michel Giard xuất bản tại Paris năm 2004, có một bức ảnh chụp khu đồn ở đảo Sha Par Wan (tức Cô Tô lớn) thuộc quần đảo đảo Gow Tow (tức Cô Tô), nơi Trung úy Bouquet và Thanh tra Rigaille bị lính canh người Đông Dương nổi loạn giết chết ngày 10 và 14/3/1945. Đáng chú ý, ngày 9/3/1945, quân Nhật nổ súng hất cẳng Pháp ở Đông Dương. Có lẽ lính canh đã nổi loạn giết chết sĩ quan Pháp là từ sự kiện trên.
Sau khi tỉnh Hải Ninh được giải phóng (1954), Cô Tô là một xã thuộc huyện Móng Cái rồi sau là một xã đặc biệt trực thuộc tỉnh Hải Ninh.
Ngày 23/7/1968, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 372-NV về việc sửa đổi tên các đảo, núi, vũng, vịnh, sông… ở miền Bắc. Các tên đảo theo tiếng Nùng, tiếng Pháp chuyển sang tiếng Việt.
Theo đó, đối với các đảo thuộc quần đảo Cô Tô ngày nay, đảo Lô Chúc San đổi là đảo Chàng Tây (đảo Trần ngày nay), đảo Tài Lỷ Nhì đổi là đảo Cá Chép, đảo Ma Chao đổi là hòn Con Ngựa, đảo Ngầu Phí Lóng đổi là đảo Khe Trâu, đảo Sha Pak Wan đổi là đảo Cô Tô, đảo Tching Lan Xan đổi là đảo Thanh Lân, đảo Cao Thao Chay đổi là Cô Tô con.
Và như vậy, các tên đảo tiếng Pháp, tiếng Nùng đã mang tên Việt kể từ đó cho đến nay. Cô Tô, Thanh Lân không có nghĩa Hán - Việt mà chỉ là biến âm mà thôi.